Latest News

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

NĐTNN không bị giới hạn sở hữu Chứng Quyền Có Đảm Bảo (Covered Warrant-CW)- Dự thảo về Covered Warrant của UBCKNN.

Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước (UBCKNN) đã công bố Dự thảo Thông tư hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant).


covered warrant
Ảnh minh họa
Theo dự thảo, Covered Warrant được định nghĩa là giao kết dân sự giữa nhà đầu tư và công ty chứng khoán (CTCK), theo đó CTCK có trách nhiệm ký quỹ tài sản đảm bảo tại ngân hàng lưu ký và thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu chứng quyền theo các điều khoản trên Bản cáo bạch. Người sở hữu chứng quyền là chủ nợ có bảo đảm của công ty chứng khoán; được ưu tiên thanh toán tài sản của CTCK trước chủ nợ không bảo đảm, cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi trong trường hợp CTCK giải thể, bị phá sản theo quy định pháp luật liên quan.
Các chứng khoán cơ sở là chứng khoán được sử dụng làm tài sản cơ sở của chứng quyền bao gồm cổ phiếu, chỉ số thị trường, chứng chỉ quỹ ETF.
Để đảm bảo an toàn, công ty chứng khoán khi phát hành Covered Warrrant phải ký quỹ tài sản đảm bảo thanh toán tại ngân hàng lưu ký, giá trị tài sản đảm bảo tối thiểu là 30% giá trị loại chứng quyền dự kiến chào bán. Số lượng chứng quyền này cũng không được vượt quá một tỷ lệ % của tổng số chứng khoán cơ sở tự do chuyển nhượng theo quy chế của UBCK.
Tài sản đảm bảo thanh toán nêu trên bao gồm tiền hoặc chứng chỉ tiền gửi của CTCK. Tài sản bảo đảm kể cả khoản tiền lãi phát sinh từ tài sản đảm bảo phải được lưu ký tại ngân hàng lưu ký trong trong suốt thời gian có hiệu lực của chứng quyền.
Đối với thời gian của Chứng quyền, dự thảo quy định thời hạn tối thiểu là ba (03) tháng, tối đa là hai (02) năm tính từ ngày phát hành đến ngày đáo hạn.
Mức giá thực hiện với chứng quyền mua, hoặc chứng quyền bán được xác định tại thời điểm trước hoặc vào ngày đáo hạn. Theo đó, CTCK có nghĩa vụ mua/bán chứng khoán cơ sở từ người sở hữu; hoặc có nghĩa vụ thanh toán khoản chênh lệch giá trị chứng khoán cơ sở dựa trên chênh lệch giá thực hiện và giá thị trường của chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện.
Khi giao dịch, nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch trên tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường. Công ty chứng khoán chỉ được thực hiện lệnh khi đã bảo đảm nhà đầu tư ký quỹ đủ tiền, chứng khoán theo quy định pháp luật liên quan.
Tổ chức hành chứng khoán cơ sở sẽ không được đầu tư, giao dịch Covered Warrant. Và điểm quan trọng nhất của Dự thảo là nhà đầu tư nước ngoài không bị hạn chế tỷ lệ sở hữu chứng quyền.
Trong khi đó, quỹ đại chúng chỉ được đầu tư vào chứng quyền nhằm mục tiêu phòng ngừa rủi ro. Ngoài ra, CTCK không được cho nhà đầu tư thực hiện giao dịch ký quỹ đối với chứng quyền.
Hiện tại, dự thảo vẫn đang trong quá trình lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân và các thành viên thị trường.

Một sản phẩm mới của chứng khoán phái sinh sắp có mặt trên TTCK Việt Nam

Sắp tới đây, một sản phẩm mới mang "hơi hướng" của sản phẩm phái sinh - Chứng quyền có bảo đảm (CW- Covered Warrant) - đã có đủ cơ chế cho phép chào bán, niêm yết, tổ chức giao dịch và thanh toán trên TTCK, mở ra cho thị trường và công chúng đầu tư một cơ hội mới.


khung canh hoi thao ve ckps
ảnh minh họa
Sau một thời gian dài được thị trường trông đợi, Thông tư hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm (CW) đã chính thức được Bộ Tài chính ký ban hành (Thông tư số 107/2016/TT-BTC) ngày 29/6/2016 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2017.
Theo đó, chứng quyền có bảo đảm (CW) đã có đủ cơ chế cho phép chào bán, niêm yết, tổ chức giao dịch và thanh toán trên TTCK, đem đến cho thị trường và công chúng đầu tư một sản phẩm mới mang hơi hướng của sản phẩm phái sinh gần giống hợp đồng quyền chọn cổ phiếu, được coi là sản phẩm “bước đệm” cho triển khai thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam.
Bài viết này xin tóm lược một số điểm chính của Thông tư.

Các sản phẩm chứng quyền

Chứng quyền có bảo đảm được chào bán và giao dịch gồm 2 loại:
- Chứng quyền mua là loại chứng quyền mà người sở hữu chứng quyền được quyền mua;
- Chứng quyền bán là loại chứng quyền mà người sở hữu chứng quyền được quyền bán một số lượng chứng khoán cơ sở theo mức giá thực hiện hoặc nhận khoản tiền chênh lệch khi giá (chỉ số) của chứng khoán cơ sở thấp hơn giá thực hiện (chỉ số thực hiện) tại thời điểm thực hiện.
Quy định tại Thông tư cũng cho phép CTCK được lựa chọn kiểu CW: (i) Kiểu Mỹ, người sở hữu chứng quyền được thực hiện quyền trước hoặc tại ngày đáo hạn; (ii) Kiểu châu Âu, người sở hữu chứng quyền chỉ được thực hiện quyền tại ngày đáo hạn.

Tài sản cơ sở của chứng quyền

Tài sản cơ sở của chứng quyền phải là chứng khoán trong danh sách chứng khoán đáp ứng điều kiện chào bán chứng quyền:
- Là cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán tại Việt Nam đáp ứng tiêu chí về mức vốn hóa thị trường, mức độ thanh khoản, tỷ lệ tự do chuyển nhượng, kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở và các tiêu chí khác theo quy chế của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
- Chứng chỉ quỹ ETF niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán tại Việt Nam.
- Chỉ số chứng khoán do SGDCK tại Việt Nam xây dựng hoặc phối hợp xây dựng và quản lý cùng tổ chức quốc tế sau khi đã được UBCKNN chấp thuận;
Các chứng khoán cơ sở này không đang trong tình trạng bị cảnh báo, kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng giao dịch, không trong diện hủy niêm yết theo quy chế của SGDCK. Tổ chức phát hành không được chào bán chứng quyền dựa trên cổ phiếu của chính tổ chức phát hành và chứng khoán của tổ chức là người có liên quan của tổ chức phát hành theo quy định tại Luật Chứng khoán.

Chào bán, niêm yết, giao dịch và thanh toán chứng quyền

Tổ chức chào bán chứng quyền là các công ty chứng khoán đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 21 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP. Để được chào bán chứng quyền, các CTCK này phải gửi hồ sơ đăng ký chào bán chứng quyền lên UBCK để xin phép chấp thuận, trong hồ sơ chào bán, CTCK phải chuẩn bị Bản cáo bạch chào bán CW giống hồ sơ chào bán cổ phiếu.
CTCK phải đáp ứng các quy định về hạn mức chào bán như:
- Hạn mức về số lượng cổ phiếu quy đổi từ các chứng quyền đã phát hành của tất cả tổ chức phát hành (kể cả chứng quyền dựa trên chứng chỉ quỹ ETF mà cổ phiếu đó là thành phần của chỉ số tham chiếu);
-Hạn mức về số lượng cổ phiếu quy đổi từ chứng quyền trong một đợt chào bán của một tổ chức phát hành so với tổng số cổ phiếu tự do chuyển nhượng;
- Hạn mức tổng giá trị chứng quyền đã phát hành và đăng ký phát hành của một tổ chức phát hành.
CTCK chỉ được chào bán bổ sung khi số lượng chứng quyền đang lưu hành vượt quá 80% số lượng chứng quyền đã phát hành và thời gian đến ngày đáo hạn lớn hơn 30 ngày. Sau khi hoàn tất chào bán, CTCK gửi hồ sơ đăng ký niêm yết tới SGDCK để xin niêm yết và chính thức giao dịch trên SGDCK.
Giao dịch chứng quyền trên SGDCK được thanh toán tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK) theo quy chế của TTLKCK.
Tổ chức phát hành có nghĩa vụ thực hiện chứng quyền theo một trong các phương thức:
- Chuyển giao chứng khoán cơ sở.
- Hoặc thanh toán tiền. Trong đó, trường hợp chứng quyền phát hành dựa trên chứng khoán cơ sở là chỉ số chứng khoán; hoặc khi việc thực hiện chứng quyền theo hình thức chuyển giao chứng khoán cơ sở cho nhà đầu tư nước ngoài dẫn tới vượt tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa đối với chứng khoán cơ sở thì phương thức thanh toán bằng tiền phải được thực hiện.
Nhà đầu tư nước ngoài được mua bán chứng quyền không bị hạn chế tỷ lệ sở hữu.

Hoạt động tạo lập thị trường của tổ chức phát hành chứng quyền

Theo quy định tại Thông tư, tổ chức phát hành chứng quyền (CTCK) có trách nhiệm thực hiện hoạt động tạo lập thị trường để tạo thanh khoản cho chứng quyền mà tổ chức đó phát hành. Giao dịch tạo lập thị trường thực hiện trên tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành theo quy chế của Sở Giao dịch chứng khoán. Chứng quyền trong tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành dùng cho hoạt động tạo lập thị trường không được sử dụng để cầm cố, thế chấp, ký quỹ, cho vay hoặc làm tài sản đảm bảo.

Quy định về quản trị rủi ro

Nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, Thông tư quy định, tổ chức phát hành chứng quyền sau khi được cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng quyền phải ký quỹ bảo đảm thanh toán tại ngân hàng lưu ký hoặc có văn bản xác nhận bảo lãnh thanh toán của ngân hàng lưu ký.
Giá trị tài sản bảo đảm ban đầu tối thiểu là 50% giá trị loại chứng quyền dự kiến chào bán. Đối với chứng quyền đang lưu hành, tổ chức phát hành phải đảm bảo có đủ số lượng chứng khoán cơ sở theo các phương án phòng ngừa rủi ro quy định tại Thông tư.
Giao dịch phòng ngừa rủi ro thực hiện trên một tài khoản giao dịch độc lập chỉ dành riêng cho hoạt động phòng ngừa rủi ro hoặc trên tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành. Hoạt động phòng ngừa rủi ro của tổ chức phát hành bao gồm các giao dịch mua, bán, vay và các giao dịch khác phù hợp với quy định pháp luật.

Theo Trí Thức Trẻ

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

Khái Niệm Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh

Nhằm nâng cao vai trò, vị thế của thị trường chứng khoán và có thêm công cụ phòng ngừa rủi ro, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam và chính thức đưa vào vận hành từ năm 2016.

tai lieu ckps
Ảnh minh họa
Tuy nhiên thị trường chứng khoán phái sinh là gì? khái niệm này còn khá mới mẻ đối với các nhà đầu tư cá nhân tại Việt Nam. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quan về thị trường chứng khoán phái sinh, qua đó có thêm thông tin hữu ích giúp có những quyết định đầu tư chính xác trong tương lai.

1. Thị trường chứng khoán phái sinh

Trong các thị trường tài sản, việc mua bán đòi hỏi hàng hoá hoặc chứng khoán phải được giao nhận hoặc là ngay lập tức hoặc là chỉ ít lâu sau đó. Việc thanh toán cũng thường được thực hiện tức thời mặc dù thỉnh thoảng cũng có trường hợp sử dụng một số thoả thuận tín dụng. Do đặc điểm như vậy nên chúng ta thường gọi là thị trường tiền mặt hoặc là thị trường giao ngay. Doanh số được thực hiện, khoản thanh toán được hoàn trả và hàng hoá, chứng khoán được giao nhận. Trong tình huống khác, hàng hoá hay chứng khoán vẫn được giao nhận vào một ngày sau đó, nhưng có các thoả thuận giúp cho người bán hoặc người mua được chọn là có thực hiện bán hay không các loại thoả thuận này, và nghiệp vụ này được thực hiện trong thị trường phái sinh.
Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng được xác định trên một hoặc một số công cụ tài sản khác. Chúng ta xem các công cụ phái sinh như là các hợp đồng, và giống như tất cả hợp đồng, chúng được thoả thuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó mỗi bên sẽ thực hiện nghĩa vụ gì đó cho bên kia. Các hợp đồng này có giá cả và người mua sẽ cố gắng mua với giá rẻ và người bán cố gắng bán với giá cao nhất. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn.

2. Thành viên của thị trường tài chính phái sinh 

– Người đầu tư: Họ sử dụng nghiệp vụ phái sinh để giảm thiểu hoặc loại bỏrủi ro do họ luôn phải đối mặt với những rủi ro do biến động giá cả của các sảnphẩm chính.
– Người đầu cơ: Với tâm lí muốn đánh cuộc trên những biến động giá cảcủa sản phẩm chỉnh nên họ sử dụng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt.
– Người cơ lợi (thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro): Bằng cách sửdụng chênh lệch giá giữa các thị trường tài chính khác nhau, họ đã sử dụng rấthiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá.
Các nghiệp vụ tài chính phái sinh đều mang lại lợi ích cho các thành viên, chính vì vậy trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ này đã phát triển rất mạnh với các nghiệp vụ phái sinh đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu.

3. Công cụ tài chính phái sinh

Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử dụng nhiều nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hợp đồng hoán đổi. Những công cụ trên sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu.

4. Đặc điểm của công cụ tài chính phái sinh

– Chứng khoán phái sinh được tạo lập dựa trên một chứng khoán gốc. Giátrị của phái sinh được xác định dựa trên những sự kiện biến động về giá trong tương lai của chứng khoán cơ sở. Hoạt động của thị trường tài chính tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển các chứng khoán phái sinh. Các chủ thể tham gia thị trường tài chính tạo ra các công cụ phái sinh và sử dụng chúng để thực hiện mục đích kinh doanh hoặc hạn chế rủi ro trong đầu tư.
– Hoạt động của thị trường phái sinh góp phần làm tăng tính thanh khoảncủa các loại chứng khoán trên thị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìmkiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua bán chứng khoán thực tế.
Với sự xuất hiện chứng khoán phái sinh làm tăng số lượng hàng hoá trênthị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua bán chứng khoán thực tế.
Giao dịch chứng khoán phái sinh góp phần giảm chi phí giao dịch, hạnchế rủi ro… Từ đó, tạo nên những lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia, góp phần ổn định và phát triển thị trường tài chính.
– Được thực hiện vào một ngày trong tương lai.

5. Các loại chứng khoán phái sinh cơ bản

a. Hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng kỳ hạn là công cụ lâu đời nhất, và có lẽ vì lí do đó mà nó ít phức tạp nhất. Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay. Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá hợp đồng thì người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu ngược lại thì người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ.
– Là thỏa thuận song phương giữa các bên.
– Giá được ấn định theo thỏa thuận của các bên tham gia.
– Là hợp đồng tùy ý, phụ thuộc vào người mua, người bán.
Ví dụ: Vào ngày 01/04 , A ký hợp đồng kỳ hạn mua của B 10 tấn cà phê kỳ hạn 3 tháng với giá 926USD/tấn. Sau 3 tháng, tức vào ngày 01/07, B phải bán cho A 10 tấn cà phê với giá 926USD/tấn và A phải mua 10 tấn cà phê của B với giá đó, cho dù giá cà phê trên thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa.

b. Hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai (hay còn gọi là hợp đồng giao sau) là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để mua bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay mà không phụ thuộc vào giá ở thời điểm thực hiện hợp đồng. Như vậy, hợp đồng tương lai khá giống với hợp đồng kỳ hạn. Sự khác biệt của chúng:
– Được giao dịch có tổ chức trên sàn giao dịch.
– Giá được điều chỉnh hàng ngày theo điều kiện thị trường.
– Là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa.
– Độ rủi ro giảm đáng kể bởi sự đảm bảo của sàn giao dịch.
Ví dụ: vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng tương lai với công ty B mua 90 tấn gạo với giá 2USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như vậy vào thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2USD/kg và công ty A phải mua 90 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2003 là bao nhiêu chăng nữa.

c. Quyền chọn: Mua và Bán

Quyền chọn: là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Mặc dù các quyền chọn được giao dịch trong một thị trường có tổ chức nhưng phần lớn các giao dịch quyền chọn được quản lý riêng rẽ giữa hai bên. Những người này tự tìm đến với nhau, loại thị trường này gọi là thị trường OTC – loại thị trường quyền chọn xuất hiện đầu tiên.
Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp đồng kỳ hạn nhưng quyền chọn không bắt buộc phải thực hiện giao dịch còn người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc bắt buộc phải thực hiện giao dịch. Hai bên trong hợp đồng kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có thể quyết định mua hoặc bán tài sản với giá cố định nếu giá trị của nó thay đổi. Có hai loại quyền chọn:

Quyền chọn mua:

Người mua quyền chọn trả một khoản tiền (gọi là phí quyền chọn) cho người bán. Người mua sẽ có quyền được mua một lượng tài sản nhất định theo một mức giá thoả thuận trước, tại một thời điểm xác định trong tương lai. Người bán nhận phí quyền chọn có trách nhiệm phải bán một lượng tài sản như đã thoả thuận cho người mua, theo mức giá đã thoả thuận, vào thời điểm xác định trong tương lai ( hoặc trước thời điểm đó) khi người mua muốn thực hiện quyền chọn mua.

Quyền chọn bán:

Người nắm giữ một lượng tài sản mua phí quyền chọn bán của nhà cung cấp quyền chọn bán để đảm bảo rằng tài sản của mình sẽ chắc chắn được bán ở một mức giá nhất định trong tương lai.

d. Hợp đồng hoán đổi

Hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền, một giao dịch mà cả hai bên đồng ý thanh toán cho bên còn lại một chuỗi các dòng tiền trong một khoảng thời gian xác định.
Ví dụ: Một bên đối tác đang nhận được một dòng tiền từ một khoản đầu tư , nhưng lại thích một loại đầu tư khác với dòng tiền mà mình đang thị hưởng. Bên đối tác này sẽ liên lạc với một môi giới hoán đổi, thường là một công ty hoạt động trên OTC, và họ sẽ thực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch. Tuỳ thuộc vào lãi suất hay giá sau đó như thế nào mà 1 bên sẽ thu được lợi nhuận hay là bị lỗ. Lãi của bên này chính là lỗ của bên kia. Thông thường giao dịch hoán đổi bao gồm các thanh toán lãi, trong một số trường hợp là thanh toán nợ gốc. Có 4 loại hoán đổi là hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất , hoán đổi chứng khoán và hoán đổi hàng hoá. Hoán đổi được xem như là sự kết hợp giữa các hợp đồng kỳ hạn.

6. Vai trò của chứng khoán phái sinh đối với thị trường chứng khoán (TTCK)

Sự ra đời của thị trường chứng khoán phái sinh mang lại khá nhiều lợi ích cho nhà đầu tư. Không chỉ đưa ra những dấu hiệu chỉ báo giá trong tương lai của tài sản gốc, chứng khoán phái sinh còn là công cụ phòng vệ rủi ro cũng như đầu tư, đầu cơ hiệu quả. Những nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, các quỹ đầu tư am hiểu về thị trường và sử dụng thành thạo các công cụ chứng khoán phái sinh sẽ là những đối tượng đầu tiên quan tâm đến những sản phẩm mới này. Do đó, sự ra đời của TTCK phái sinh được kỳ vọng là sẽ làm tăng tính hiệu quả của TTCK, thu hút thêm vốn, tăng giá trị giao dịch và thanh khoản thị trường.
Là công cụ phòng vệ rủi ro hiệu quả, chứng khoán phái sinh đồng thời cũng có thể làm tăng rủi ro cho nhà đầu tư. Với các công cụ chứng khoán phái sinh, nhà đầu tư có thể tạo ra các vị trí tương tự như bán khống chứng khoán không căn cứ. Chẳng hạn, khi nhà đầu tư dự đoán chỉ số VN-Index đi xuống và bán một hợp đồng quyền mua, nếu dự đoán sai, VN-Index tăng điểm, khi đó nhà đầu tư đối mặt với nguy cơ thua lỗ không giới hạn. Hơn nữa, khi tham gia TTCK phái sinh, do chỉ cần bỏ ra số vốn ban đầu nhỏ, những nhà đầu cơ thường sẽ sử dụng đòn bẩy tài chính cao, sẽ làm tăng mức độ rủi ro và có thể tác động làm tăng biến động giá trên thị trường cơ sở.

Theo CFE

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2016

Công thức: Sản phẩm + KHÔNG + chất độc hại = marketing hiện đại hay marketing xảo trá khi DN "đánh vào nỗi sợ hãi" của người tiêu dùng?

Cách đây 10 năm, Masan - từ một doanh nghiệp chưa tên tuổi - đã thành công với "chiêu" quảng cáo nước tương không chứa 3-MCPD. Từ đó đến nay, Masan vẫn luôn trung thành với chiêu trò marketing đánh vào nỗi sợ hãi của người tiêu dùng. Liệu người tiêu dùng có đặt câu hỏi về đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp này?

masan-sanpham

Hơn 10 năm trở lại đây, các mảng kinh doanh của Masan gặt hái nhiều thành công, trong đó công lớn thuộc về các chiến dịch marketing "đánh vào nỗi sợ hãi" của người tiêu dùng, chỉ với 1 công thức chung: "Sản phẩm" + "KHÔNG" + "chất độc hại".
Trước năm 2007, mô hình kinh doanh của Masan Food khá đơn giản: một thương hiệu Chinsu cho 4 dòng sản phẩm chính là nước tương (ra đời năm 2002), nước mắm (2003), mì gói (2003), hạt nêm (2003) với doanh thu chưa đến 500 tỉ đồng và chưa có bước phát triển nào nổi trội. Rồi sự cố chất gây ung thư 3-MCPD trong nước tương xảy ra (bắt đầu từ năm 2005 và kéo dài cho đến năm 2007), làm thay đổi toàn bộ vận mệnh của Chinsu cũng như Masan Food.

Nước tương không 3-MCPD

Tháng 7/2005, nước tương Chinsu tại châu Âu bị cáo buộc có chứa 3-MCPD (một loại độc tố sinh ra trong quá trình lên men đậu nành để sản xuất nước tương, có khả năng gây ung thư) quá nồng độ cho phép. Tại Việt Nam, cộng đồng cũng bắt đầu lo lắng về loại độc tố này. Sở Y tế TP.HCM vào cuộc điều tra và rất nhiều nhãn hiệu nước tương được kết luận có chứa chất 3-MCPD vượt quá tiêu chuẩn. Tuy nhiên, hồi kết của câu chuyện 3-MCPD vẫn chưa làm người tiêu dùng an tâm khi kết luận của Sở Y tế vẫn gây tranh cãi và không ít diễn biến sau đó cho thấy đã có tình trạng nhiều thông tin về 3-MCPD đã bị che giấu. Lãnh đạo Masan phủ nhận cáo buộc này, đồng thời họ cũng nhận ra thời cơ đã đến.
Giữa cơn bão, Masan nhanh chóng tung ra thị trường sản phẩm nước tương Tam Thái Tử với lời quảng cáo "Không chứa 3-MCPD", và thông báo thưởng tiền tỷ cho ai tìm được chất cấm trong sản phẩm của Masan.
Tam Thái Tử đã nhanh chóng đưa Masan lên dẫn đầu thị trường, chiếm tới 80% thị phần, thổi bay thị phần của các hãng nước tương xuất hiện trước đó, giúp doanh thu năm 2008 Masan Food tăng gấp 3 lần. Quan trọng hơn cả, thành công của chiến dịch marketing này chính là tiền đề cho toàn bộ các chiến dịch khác được Masan sử dụng về sau.
masan-doanhthu
Doanh thu của Masan Consumer tăng trưởng 200% trong năm 2008 và 100% trong năm 2009

Nước mắm không ure

Khi chuyện nước tương có chất MCPD lắng xuống không lâu, đến lượt thị trường nước mắm gặp rắc rối với thông tin có chứa ure, gây hoang mang cho người tiêu dùng, bởi ure là cái tên được sử dụng trong phân hoá học. Nhiều ý kiến cho rằng, ure được cho vào nước mắm nhằm tăng độ đạm cho sản phẩm.
Thị trường nước mắm ngay lập tức đóng băng, nhiều nhà sản xuất bị phạt trong khi những nhà sản xuất không bị phạt cũng đột ngột giảm doanh thu.
Giữa cơn bão này, Masan tung ra thị trường nước mắm Nam Ngư với quảng cáo 4 không:
- Không có ure gây hại
- Không có vi khuẩn yếm khí gây biến đổi mùi
- Không có vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm
- Không có nấm men, nấm mốc
Quảng cáo này đã giúp Masan tiếp tục thành công ở thị trường nước mắm, nắm thị phần lớn nhất và đánh bại ông lớn bấy giờ là Phú Quốc Knorr.

Hạt nêm không bột ngọt

Cũng trong giai đoạn năm 2008, Masan tiếp tục sử dụng chiến lược "marketing sợ hãi" của mình để tấn công thị trường hạt nêm.
Trong khi các đối thủ lớn cùng ngành chọn cách quảng cáo nói tốt về sản phẩm mình, như Knorr - Hạt nêm từ thịt; Maggi - Đậm đà vị thịt; Aji Ngon - Ngon từ thịt, ngọt từ xương, thì Masan lựa chọn quảng cáo "Hạt nêm không bột ngọt". Bột ngọt (mì chính) vốn là một chất phụ gia được sử dụng rộng rãi, nhưng cũng có thông tin bột ngọt khi sử dụng nhiều có thể gây hại đến hệ thần kinh con người, khiến nhiều người tiêu dùng lo lắng.
Tuy nhiên, Masan đã không thành công ở thị trường hạt nêm, bởi bột ngọt là chất điều vị 621. Masan không sử dụng chất này nhưng lại sử dụng các chất điều vị khác là 627 và 631, được xem là loại "siêu bột ngọt". Không những không thành công với chiến lược lần này, Masan còn bị các chuyên gia marketing và chuyên gia y tế đồng loạt lên án.

Mỳ không nóng, mỳ không sử dụng dầu chiên đi chiên lại nhiều lần

Trước khi Omachi xuất hiện năm 2007, thị trường mì gói phát triển không có phân khúc rõ ràng. Các nhà kinh doanh mì chủ yếu vẫn sử dụng chiến lược tung ra nhiều nhãn hàng, để người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn. Mì ăn liền Chinsu khi với thông điệp tiếp thị chưa mấy rõ ràng cũng nhanh chóng bị lọt thỏm trong một thị trường hỗn độn.
masan-migoi

Rồi Masan Food tung ra Omachi, mì ăn liền có mức giá trung cao (premium-mass), với tuyên bố "làm từ sợi khoai tây, rất ngon mà không sợ nóng", đánh vào nỗi sợ bấy lâu nay của người tiêu dùng là ăn mỳ bị nóng trong người.
Tiếp đó, Masan Food tung ra mì Tiến Vua, đánh vào phân khúc trung bình với một thông điệp sức khỏe mạnh hơn “mì không sử dụng dầu chiên đi chiên lại nhiều lần” (vì sử dụng loại dầu này sẽ làm tăng nguy cơ ung thư) và không có “trans fat” (loại chất béo có hại cho sức khỏe, vừa qua được Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tìm thấy trong 38% mẫu mì gói được kiểm tra vào giữa tháng 8 vừa qua).

Chỉ với 2 sản phẩm, Masan đã nhanh chóng xác lập vị thế trong ngành, vượt qua nhiều thương hiệu lớn. Thành công của Omachi và Tiến Vua vẫn đến từ "marketing sợ hãi". Sau chưa đầy 3 năm có mặt trên thị trường, Omachi và Tiến Vua đã giành được 15% thị trường, đánh bật cả thương hiệu lâu đời Vifon và một nhà sản xuất mạnh khác là Asia Food.

Cám Biozeem không chất tạo nạc

masan-cam

Những năm gần đây là khoảng thời gian thông tin về "thực phẩm bẩn", "thực phẩm chứa chất cấm" tràn ngập trên mạng xã hội và truyền thông. Trong số đó, vấn đề thịt lợn chứa chất tạo nạc một lần nữa khiến người tiêu dùng hoảng sợ.
Lần này, Masan với sản phẩm cám Bio-zeem hướng tới các nhà sản xuất cám, với thông điệp "Không chứa chất tạo nạc".
Một khảo sát sau quảng cáo này đã cho thấy, có khoảng 95% nông dân sau khi sử dụng thử cám của Masan đã tiếp tục thường xuyên mua sản phẩm, một tỷ lệ rất cao trong ngành chăn nuôi.
Tung ra thị trường từ quý 2/2015, nhưng các sản phẩm Bio-zeem gần như ngay lập tức đã đóng vai trò chủ lực trong việc tạo doanh thu khi đã mang về thêm 26,5% doanh thu mảng thức ăn cho heo của công ty Masan Nutri Science.

Nước mắm không thạch tín

Chỉ trong chưa đầy 2 tuần qua, thị trường nước mắm liên tục có những thông tin gây chấn động.
Ngày 10/10, tại buổi hội thảo về nước mắm, Giám đốc phát triển sản phẩm cấp cao của Masan cho biết, "Chúng tôi đã nghiên cứu hàng trăm các tài liệu khoa học và thực hiện hàng nghìn các thử nghiệm, đánh giá, đo lường, kiểm tra…. Và tìm thấy được tỷ lệ thuận giữa độ đạm cao và hàm lượng cao các chất có thể ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người tiêu dùng".
Đại diện Masan không công bố chi tiết nghiên cứu, nhưng đúng 1 tuần sau, vào ngày 17/10, Vinastas công bố kết quả khảo sát toàn diện về nước mắm và tung thông tin 67% các mẫu khảo sát có hàm lượng arsen vượt quy định. Thông tin này ngay lập tức gây sốc cho những người nội trợ, khi giờ đây không biết tin tưởng loại nước mắm nào để sử dụng.
Và chỉ 3 ngày sau khi báo cáo của Vinastas được công bố, ngày 20/10, hình ảnh quảng cáo của Masan về nước mắm "không chứa thạch tín" cho 2 thương hiệu nước mắm của mình, là Chinsu hương cá hồi và Nam Ngư, đã nghiễm nhiên xuất hiện trên 2 tờ báo lớn.
Như vậy, tính từ khi Giám đốc phát triển sản phẩm của Masan lên tiếng về việc "không phải cứ đạm cao là tốt" cho đến khi Masan có quảng cáo về nước mắm không thạch tín, tất cả chỉ diễn ra trong đúng 10 ngày.
masan-nuocmam

Ngoại lệ: Cà phê làm từ cà phê

Quảng cáo cà phê là một trong những ngoại lệ của Masan, khi không sử dụng công thức "sản phẩm" + "KHÔNG" + "chất độc hại", nhưng vẫn hướng đến "marketing sợ hãi".
Trong bối cảnh nhiều thông tin cho rằng cà phê Việt Nam trộn nhiều đậu nành, Vinacafe hồi tháng 8 vừa qua đã đưa ra thông điệp "Từ 1/8, trong mỗi ly cà phê từ Vinacafe là cà phê nguyên chất".
masan-cafe
Thông điệp này được lan toả mạnh mẽ, nhưng lại theo hướng bất lợi cho Masan, bởi người tiêu dùng đặt câu hỏi ngược lại: "Vậy, trước 1/8, Vinacafe cho chúng tôi uống cái gì?".
Có thể nói, trong gần 10 năm qua, cách marketing của Masan gần như không hể thay đổi, đó là đánh vào nỗi sợ hãi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, với việc người tiêu dùng đang ngày càng có nhiều thông tin hơn trong tay, và mạng xã hội bùng nổ, Masan đang gặp nhiều khó khăn, tiêu biểu như trong 2 vụ "nước mắm thạch tín" và "cà phê làm từ cà phê" mới đây.

Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

Chỉ Số VNX Allshare Được Kỳ Vọng Sẽ Là Cú Hích Cho Thị Trường Chứng Khoán

Cuối tháng 10 này, thị trường chứng khoán sẽ có một chỉ số chung là VNX Allshare. Sản phẩm mới này được nhiều nhà đầu tư hồi hộp đón chờ và kỳ vọng thu hút dòng tiền trước và sau thời điểm chỉ số mới vận hành là rất khả quan.

vxn allshare
Lễ ra mắt bộ chỉ số VNX Allshare

VNX Allshare có điểm chỉ số cơ sở là 1.000 điểm. Khác với các chỉ số khác trên thị trường hiện nay, VNX Allshare là sản phẩm chung của cả 2 sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Hà Nội (HNX).

Chỉ số chung VNX Allshare sẽ cung cấp thêm một chỉ báo thị trường cho nhà đầu tư, thống nhất và chuẩn hóa hệ thống chỉ báo cho toàn thị trường, đồng thời tạo chỉ số cơ sở nhằm phát triển các sản phẩm tài chính như phái sinh, quỹ đầu tư chỉ số ETF.

VNX Allshare được xây dựng trên 3 cơ sở: sàng lọc về tư cách, sàng lọc về tỷ lệ tự do chuyển nhượng và sàng lọc về thanh khoản. Sau khi sàng lọc các cổ phiếu có đủ  điều kiện theo các tiêu chí đề ra, danh sách thành phần chỉ số VNX Allshare kỳ 1 năm 2016 được xây dựng gồm 388 cổ phiếu, trong đó có 208 cổ phiếu từ HOSE và 180 cổ phiếu từ HNX.

Ngoài việc xây dựng bộ chỉ số chung VNX Allshare, vừa qua, HOSE, HNX và Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD) cũng đã ký biên bản hợp tác. Thỏa thuận ba bên này nhằm trao đổi chuyên môn để tăng cường hợp tác thực hiện các mục tiêu chiến lược đề ra của thị trường giai đoạn 2016 - 2020.
Sau buổi ký kết, HNX, HOSE và VSD sẽ triển khai, phối hợp trao đổi, chia sẻ thông tin quản lý, giám sát liên quan đến hoạt động và chuyên môn của ba bên, hợp tác xây dựng và phát triển các sản phẩm mới trên thị trường chứng khoán..., với mục tiêu quản lý và vận hành an toàn thị trường chứng khoán, phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, đối với cơ quan quản lý thị trường, hợp tác giữa HOSE, HNX và VSD thể hiện mục tiêu phát triển đồng bộ, có chiều sâu để hỗ trợ, tạo thêm nhiều điều kiện cho doanh nghiệp và các thành viên thị trường hoạt động hiệu quả hơn, đưa thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, đáp ứng nhu cầu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam.

Rõ ràng, cùng với việc chuẩn bị ra chỉ số chung VNX Allshare, cái bắt tay giữa 3 đơn vị và những động thái tiếp theo trong việc đưa ra các sản phẩm mới cho thấy, mục tiêu hiện thực hóa việc nâng hạng thị trường đang cận kề. Theo đó, sức hút của sàn chứng khoán đang tiếp tục gia tăng, thể hiện ở nhịp đi lên khá ổn định của chỉ số thị trường trong thời gian vừa qua. Chỉ số VN-Index từ đã có nhịp đi lên khá ấn tượng từ giữa tháng 9 đến nay, từ mốc 650 điểm lên trên 680 điểm.

Theo các nhà quan sát, khi chỉ số VNX Allshare vận hành, mối quan tâm của giới đầu tư sẽ hút vào những cổ phiếu nằm trong rổ VNX Allshare (208 cổ phiếu sàn HOSE và 180 cổ phiếu sàn HNX). Lý do là, các cổ phiếu được vào rổ chỉ số chung đã qua các bước sàng lọc, nên phần nào thể hiện được “đẳng cấp” của doanh nghiệp đó. Hơn nữa, trong tương lai không xa, thị trường chắc chắn có những quỹ đầu tư chỉ số ETF chọn VNX Allshare làm chỉ số cơ sở. Như vậy, các cổ phiếu trong rổ VNX Allshare sẽ có nhiều cơ hội hút dòng tiền hơn so với những cổ phiếu khác.


Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2016

KIDO Được Unilever Trả Giá Cao Gấp Mười Lần So Với 13 Năm Trước Để Mua Lại Mảng Kem

Ông Trần Lệ Nguyên, Tổng Giám đốc Tập đoàn Kido, tại sự kiện CEO Forum 2016 diễn ra ở TPHCM chiều ngày 30/9/2016 cho biết, Unilever - đơn vị bán thương hiệu kem Wall's cho Kido cách đây 13 năm, sẵn sàng trả 200 triệu đô nếu Kido thoái vốn. 

kem kido
Kem Kido ngày nay "xuất thân" từ kem Wall's của 13 năm về trước
giờ đây có giá trị hơn gấp 10 lần
Mức giá 200 triệu USD mà ông Nguyên đề cập Unilever sẵn sàng trả giá dành cho mảng kem tương đương với khoảng 1/2 giá trị thị trường của KDC ở thời điểm hiện tại (khoảng 7.800 tỷ đồng).
Sau khi bán đi mảng bánh kẹo cho đối tác Mondelez, hiện Kido tham gia vào các lĩnh vực gồm ngành hàng lạnh là kem, ngành thực phẩm là mì gói & dầu ăn (tương lai ngành hàng lạnh sẽ có thêm bánh bao).

Câu chuyện 13 năm trước

Vào trung tuần tháng 4/2003, Công ty CP Kinh Đô (nay là Kido) đưa ra thông báo rộng rãi về việc hoàn tất kí kết hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng thương hiệu kem Wall's với Tập đoàn Unilever Bestfood ở Việt Nam (nay là Unilever Vietnam).
Theo hợp đồng này, Kinh Đô sẽ mua lại toàn bộ cơ sở vật chất, thương hiệu để sản xuất kinh doanh kem Wall's tại Việt Nam.
Mức giá đưa ra cách đây hơn 13 năm là 20 triệu USD cho hợp đồng tiếp nhận toàn bộ quy trình sản xuất, kinh doanh kem Wall (đến hết tháng 7/2003) và Kinh Đô được sử dụng tên thương hiệu Wall's đến hết năm 2004.
Theo thỏa thuận, trong thời hạn 5 năm kể từ ngày ký hợp đồng này (tức đến năm 2008), nếu Kinh Đô không sản xuất kem thì cũng không được bán thiết bị, công nghệ cho đối thủ cạnh tranh của Wall’s. Sau 5 năm, nếu Wall’s trở lại Việt Nam thì Kinh Đô sẽ là đối tác ưu tiên số một trong vấn đề hợp tác sản xuất kinh doanh.
Kem Wall's của Unilever khi đó sở hữu hệ thống phân phối khổng lồ, với gần 115 nhà phân phối và gần 4.000 điểm bán lẻ trên cả nước (chiếm khoảng 50% thị phần kem tại Việt Nam). Unilever mất 6 năm xây dựng hệ thống và thương hiệu này, nếu tính luôn cả vốn đầu tư xây dựng nhà máy tại khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi và quảng bá thương hiệu thì tổng chi phí Unilever đã bỏ ra lên đến khoảng 20 triệu USD.
Kinh Đô cũng được thừa hưởng gần 130 công nhân thạo nghề và được đào tạo bài bản của Unilever.

Kem hiện mang về 75% doanh số

Tại sự kiện CEO Forum 2016, chính ông Nguyên khi đề cập về các mối liên kết kinh doanh hiện tại đã viện dẫn case study giữa Kido và Unilever như một minh chứng điển hình: "Cách đây 13 năm, Unilever bán mảng kem vì liên tục lỗ trong nhiều năm. Sự liên kết giữa Kido và Unilever khi mua lại kem Wall's không đơn thuần là mua thương hiệu, nhân viên, tồn kho. Đó là sự liên kết giữa tất cả các nhân viên, nhà phân phối, an toàn thực phẩm, văn hóa, là kết nối giữa doanh nghiệp và nhà phân phối để tạo nên sức mạnh".
Sau hơn 1 thập kỉ, đặc biệt sau khi bán mảng bánh kẹo cho Mondelez, kem đã trở thành mảng kinh doanh chủ lực của Kido, bên cạnh các sản phẩm mới liên kết với các doanh nghiệp khác như mì gói hay dầu ăn (sắp tới có thêm bánh bao).
“Khi mới tiếp quản thương hiệu này, doanh số của kem Wall's chỉ là 90 tỷ, đến ngày hôm nay đã lên tới 2.000 tỷ”, ông Nguyên cho hay
Nửa đầu năm 2016, doanh thu từ kem đem về đến 75% tổng doanh thu toàn tập đoàn. Trong 7 tháng đầu năm, Kido đã lãi hơn 160 tỷ đồng từ kem – cao hơn cả con số lãi 110 tỷ đồng trong cả năm 2015. Ước năm 2016, lợi nhuận từ mảng này có thể lên 230 - 240 tỷ đồng.
Tại thời điểm mua lại kem Wall's từ Unilever, có lẽ chính Kinh Đô không thể dự đoán được việc sau này tập đoàn cũng sẽ mang tên công ty kem Kido (khi đã bán mảng bánh kẹo, tên thương hiệu Kinh Đô không còn được dùng nữa).
Kido cũng chuẩn bị khánh thành nhà máy ở Bắc Ninh, dự kiến giúp tăng năng suất ngành lạnh của Kido lên 170%. Việc xây dựng và đưa vào hoạt động nhà máy mới này sẽ giúp giảm chi phí hậu cần, tăng tốc độ phục vụ thị trường và phát triển độ phủ của các sản phẩm kem, sữa chua Kido tại phía Bắc.
Về phía Unilever, 5 năm sau ngày kem Wall's về tay Kinh Đô, năm 2008, thương hiệu này đã trở lại Việt Nam thông qua con đường nhập khẩu nhãn Wall's từ Thái Lan, sản phẩm được Công ty Metro Cash & Carry Vietnam phân phối.


Những Sai Lầm Mà Một Nhà Đầu Tư Chứng Khoán Thường Hay Mắc Phải

Đối với đa số nhà đầu tư chứng khoán, chốt lời hay cắt lỗ là công việc khá khó khăn nhất bởi tâm lý nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu thường nghĩ nó sẽ tăng tiếp, hay "giảm thế là cùng, không giảm nữa đâu"... . Không ít trường hợp nhà đầu tư mất sạch lãi, thậm chí trở nên thua lỗ do không biết cách chốt lời hay cắt lỗ cổ phiếu.

Sai lầm của nhà ĐTCK
Sai lầm của nhà ĐTCK
Trong quá trình đầu tư chứng khoán, hầu hết mọi người đều mắc phải những sai lầm mang tính lặp đi lặp lại dù rằng họ đã tự hứa sẽ rút kinh nghiệm sau những thất bại. Những sai lầm này không chỉ diễn ra với những nhà đầu tư mới gia nhập thị trường mà ngay cả những nhà đầu tư lâu năm cũng khó tránh.
Dưới đây là 5 sai lầm phổ biến nhất trên TTCK mà có lẽ bất kỳ nhà đầu tư nào cũng từng trải qua.

Chạy theo đám đông

Khi đầu tư chứng khoán, ai cũng mong muốn “mua thấp, bán cao” nhưng trên thực tế số đông thường làm ngược lại, “mua cao, bán thấp”.
Cung bậc tâm lý trong ĐTCK
Mỗi khi thị trường có “sóng”, hầu hết phương tiện truyền thông đều nhắc đến chứng khoán và đây là giai đoạn cổ phiếu đã chạy được một quãng dài. Số đông nhà đầu tư chậm chân chưa mua vào trước đó sẽ nôn nóng tham gia và “kẹp” trên đỉnh. Khi thị trường điều chỉnh, những nhà đầu tư này sẽ chịu thiệt hại nặng nề và nhiều trường hợp “cắt lỗ” trúng đáy.
Trường hợp cổ phiếu KSB của khoáng sản Bình Dương là ví dụ điển hình khi thị giá hồi đầu năm chỉ quanh ngưỡng 30.000đ và khối lượng giao dịch cũng rất thấp. Tuy vậy, khi cổ phiếu tăng lên trên 90.000đ vào đầu tháng 7 vừa qua thì thanh khoản cũng tăng vọt cho thấy nhà đầu tư rất hào hứng mua vào. Tuy nhiên, đây cũng là đỉnh của KSB và những nhà đầu tư mua vào trong giai đoạn đầu tháng 7 đã chịu thiệt hại không nhỏ.

Không biết cách chốt lời

Trong đầu tư chứng khoán, chốt lời là công việc có lẽ khó khăn nhất bởi tâm lý nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu thường nghĩ nó sẽ tăng tiếp, bán đi sẽ rất “phí”. Không ít trường hợp nhà đầu tư mất sạch lãi, thậm chí trở nên thua lỗ do không biết cách chốt lời cổ phiếu.
Chốt lời khi thỏa mãn
Chốt lời khi thỏa mãn
Một phương pháp mà nhiều nhà đầu tư theo trường phái kỹ thuật lựa chọn là chốt lời sau khi cổ phiếu chính thức tạo đỉnh và được xác nhận bằng một phiên “phân phối đỉnh”. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi nhiều kinh nghiệm cũng như cảm nhận tốt về thị trường. Do đó, không nhiều nhà đầu tư có thể áp dụng thành công phương pháp này.
Cách dễ nhất là bạn nên chốt lời khi cảm thấy thỏa mãn và thực hiện chốt lời từng phần khi giá cổ phiếu đang trên đà tăng trưởng. Bạn cũng không nên tiếc nuối khi cổ phiếu tiếp tục tăng sau khi bán ra bởi lẽ chốt lời không bao giờ là sai cả, chốt lời còn hơn cắt lỗ.


Không chịu cắt lỗ

Ngược lại với chốt lời thì việc cắt lỗ cũng khó không kém. Khi đã đầu tư, không ai muốn bị thua lỗ và phần lớn nhà đầu tư “kẹp” đều tự nhủ “đợt điều chỉnh này sẽ sớm kết thúc, cổ phiếu sẽ hồi phục trở lại thôi”. Tuy nhiên, trên thực tế điều này thường không diễn ra và bạn sẽ phải trả giá đắt cho việc không sớm cắt lỗ.
Cắt lỗ đúng lúc
Cắt lỗ đúng lúc
Ví dụ, khi cổ phiếu bạn giảm sâu tới 50% thì mức phục hồi để về giá gốc là 100%. Liệu rằng cơ hội để cổ phiếu tăng giá gấp đôi trở lại có đến không hay cổ phiếu sẽ lại tiếp tục giảm sâu?
Do đó, cắt lỗ sẽ là bài học mà nhà đầu tư cần phải lưu tâm đặc biệt và một số chuyên gia cho rằng mức 10% sẽ là con số tối đa thực hiện cắt lỗ. Tất nhiên, đây là con số được áp dụng cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ chiếm đa số trên thị trường.

Bỏ hết trứng một hoặc quá nhiều rổ

Nếu bạn rất tin tưởng vào một cổ phiếu nào đó thì việc “tất tay” có vẻ là một ý hay. Nhưng việc cho hết trứng vào một giỏ luôn hết sức rủi ro, cho dù bạn tin tưởng rằng “chắc chắn có lời”. Trên thực tế, nhiều trường hợp cổ phiếu từng được đánh giá cơ bản tốt, kín room ngoại như JVC vẫn khiến không ít nhà đầu tư thua lỗ nặng nề.
Khi đầu tư vào hết một rổ có thể mang lại lợi nhuận lớn nhưng cũng có thể bạn thua lỗ nặng nề, do đó tốt hơn hết là phải đa dạng hóa.
Tuy vậy, cũng không nên đa dạng hóa quá vì sẽ khiến bạn khó tập trung tỷ trọng vào cổ phiếu mạnh. Nhiều khi mức lợi nhuận của cổ phiếu này sẽ bị xóa tan bởi khoản lỗ của những cổ phiếu khác. Do đó, đa dạng là tốt, nhưng ko nên quá rộng.


Quá quan tâm tới Index

Nhà đầu tư đôi khi quá quan tâm tới Index mà quên đi một điều rằng thị trường có rất nhiều cổ phiếu không hề phụ thuộc tới Index. Nếu chỉ nhìn vào Index để đầu tư thì nhà đầu tư sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội cũng như thua lỗ dù thị trường có vẻ tăng.
Trên TTCK Việt Nam, có thể thấy rất nhiều cổ phiếu liên tục phá đỉnh, bất chấp VnIndex vẫn chỉ bằng một nửa so với thời kỳ đỉnh cao năm 2007. Tương tự, không ít cổ phiếu đã “bay hơi” gần hết giá trị so với năm 2007 và thậm chí đã bị hủy niêm yết.
Do đó, nhà đầu tư chỉ nên xem Index là một yếu tố tham khảo và điều quan trọng hơn là tìm kiếm những cổ phiếu có nền tảng thực sự tốt để nắm giữ.




>>> Thành công của nhà Tài Phiệt George Soros là nhờ Nắm Rõ Tâm Lý Bầy Đàn
>>> 10 kinh nghiệm quý báu "bỏ túi" cho nhà đầu tư chứng khoán Việt


Recent Post