Latest News

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chứng Khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chứng Khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Khung pháp lý của thị trường chứng khoán phái sinh

Bài viết dưới đây sẽ có cái nhìn khái quát về khung pháp lý của thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam hiện nay.


Những năm gần đây thị trường chứng khoán Việt Nam biến động khá thất thường, một trong những giải pháp đưa ra là sử dụng các công cụ tài chính phái sinh giúp đáp ứng nhu cầu phòng ngừa rủi ro ngày càng cao của các nhà đầu tư. Nghị định 42/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc phát triển Thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam góp phần giải quyết những nhu cầu từ thực tiễn, giúp thị trường chứng khoán phát triển ngày càng vững mạnh.

Nhu cầu từ thực tiễn

Tại Việt Nam, các công cụ phái sinh có nguồn gốc từ tiền tệ, hàng hóa đã được sử dụng từ nhiều năm nay. Về phái sinh hàng hóa, trung tâm giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột đã được thành lập năm 2006 với chức năng chính là tổ chức việc mua bán các loại cà phê sản xuất tại Việt Nam theo phương thức giao ngay và giao sau (giao dịch kỳ hạn). Đến nay thì việc sử dụng các công cụ phái sinh tiền tệ đã được mở rộng cho nhiều ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài, với đa dạng các công cụ như: hoán đổi, quyền chọn, các sản phẩm kỳ hạn…
Về lĩnh vực chứng khoán, thị trường cổ phiếu dù đã được 12 năm nhưng thực tế mới chỉ phát triển trong 5 – 6 năm trở lại đây. Trên thị trường, một số công cụ phái sinh đơn giản cũng bước đầu được sử dụng không chính thống (như quyền mua chứng khoán, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn…) trong giai đoạn thị trường tăng trưởng nhanh 2007 – 2008 với vai trò một công cụ đầu tư mới nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư sinh lợi là chủ yếu. Chỉ khi thị trường rơi vào giai đoạn suy giảm sâu và kéo dài do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, khủng hoảng nợ công châu Âu 2011, các sản phẩm phái sinh lại được sử dụng lại nhiều hơn trong vai trò một công cụ phòng vệ rủi ro hiệu quả. Tuy nhiên, do khung pháp lý hiện hành (Luật Chứng khoán và nghị định hướng dẫn) chưa có quy định cụ thể nên việc giao dịch các chứng khoán phái sinh bị coi là trái các quy định của pháp luật.
Dù vậy, thực tiễn đã chứng minh một điều là nhu cầu giao dịch các chứng khoán phái sinh là có thực. Sau quá trình 12 năm hình thành và phát triển, bên cạnh các “sản phẩm truyền thống” như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… đã đến lúc thị trường cần mở rộng thêm các sản phẩm mới, đa dạng hơn, hấp dẫn hơn như các chứng khoán phái sinh.

Khung pháp lý của thị trường chứng khoán phái sinh

Khung pháp lý cho TTCK phái sinh hoạt động, vừa chính thức định hình khi Chính phủ ban hành Nghị định 42/2015/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, không chỉ giải quyết nhiều vấn đề đặt ra trong thực tiễn, mà còn giúp TTCK phát triển theo chiều sâu.
Theo đó, khi triển khai TTCK phái sinh, trước mắt sẽ đưa vào giao dịch các chứng khoán phái sinh đã được chuẩn hóa để niêm yết, các sản phẩm đơn giản, dễ sử dụng với mục đích phòng ngừa rủi ro là chính như: hợp đồng tương lai chỉ số, dùng để phòng ngừa rủi ro cho danh mục cổ phiếu; hợp đồng tương lai trái phiếu, dùng để phòng ngừa rủi ro cho danh mục trái phiếu. Việc triển khai các chứng khoán phái sinh niêm yết khác dựa trên chứng khoán, sẽ được Bộ Tài chính hướng dẫn theo lộ trình tại Đề án phát triển TTCK phái sinh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kèm theo Quyết định 366/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014. Để tạo sự linh hoạt trong phát triển các sản phẩm mới cho TTCK phái sinh theo nguyên tắc thận trọng, Nghị định về TTCK phái sinh xác định rõ nguyên tắc: Tùy thuộc vào trình độ phát triển của TTCK, cũng như nhu cầu của nền kinh tế, Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định việc triển khai các sản phẩm mới, dựa trên các tài sản cơ sở khác phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo thông lệ quốc tế, trên TTCK phái sinh tập trung do Sở Giao dịch chứng khoán đứng ra tổ chức có 3 loại sản phẩm phái sinh chủ yếu được giao dịch gồm: hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và một số hợp đồng kỳ hạn trên trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc nhà nước. Trên TTCK phái sinh phi tập trung (thị trường OTC) cũng có 3 loại phái sinh chủ yếu là: hợp đồng quyền chọn không niêm yết, hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi.
Nếu như TTCK cơ sở (thị trường hiện tại) giúp nhà đầu tư kiếm lợi nhuận, thì với chức năng chính là phòng ngừa rủi ro, TTCK phái sinh chủ yếu sẽ hỗ trợ nhà đầu tư bảo vệ những lợi nhuận đã kiếm được. Các chứng khoán phái sinh, tuy được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, nhưng bản thân chúng lại tiềm ẩn rủi ro nếu nhà đầu tư không quản lý tốt các hoạt động đầu tư. Do đó, để giảm thiểu rủi ro, các thành viên tham gia thị trường, nhất là các đơn vị trung gian cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho thị trường như công ty chứng khoán, phải đáp ứng các chuẩn rất cao về vốn, công nghệ, quản trị rủi ro, đội ngũ nhân sự…
Theo Quyết định 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì hết năm 2015 sẽ tập trung xây dựng khung pháp lý, hoàn thiện hạ tầng công nghệ giao dịch, thanh toán bù trừ chứng khoán phái sinh… để giai đoạn 2016-2020 đưa TTCK phái sinh vào vận hành. Để đưa TTCK phái sinh vào vận hành, một khối lượng công việc rất lớn đang đặt ra: xây dựng hệ thống công nghệ giao dịch, thanh toán, bù trừ, đến đào tạo nhân sự, xây dựng hệ thống quy trình, quy chế, đảm bảo vận hành TTCK phái sinh hiệu quả trong thời gian tới. Là thị trường đi sau, yêu cầu rất quan trọng đặt ra đối với tổ chức vận hành TTCK phái sinh tại Việt Nam là không lặp lại những bài học thất bại trong quản lý TTCK phái sinh đã từng xảy ra ở các quốc gia.

Tiềm năng và thách thức cho sự phát triển thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam

Thực tiễn cho thấy, giao dịch phái sinh hàng hóa và tiền tệ tại Việt Nam đã ra đời từ lâu và có những bước phát triển nhất định. Đã cho thấy nhu cầu của nhà đầu tư và sự ra đời của TTCK phái sinh chính thức là thiết yếu đối với sự phát triển chung của TTCK.
Quy mô TTCK Việt Nam hiện còn khá khiêm tốn so với các nước trong khu vực và thế giới. So với giá trị vốn hóa toàn thế giới, thị trường Việt Nam chỉ tương đương 0,09%. Quy mô thị trường vốn so với nền kinh tế của Việt Nam cũng nằm trong nhóm thấp nhất, với tỷ số thị trường vốn so với GDP đạt 33,7%. Với quy mô nhỏ bé, sự quan tâm và tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài còn khá hạn chế. Theo thống kê, giá trị giao dịch của nhà đầu tư tổ chức trong 12 tháng qua chiếm khoảng 14,5% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường.
Ngoài những thách thức về việc xây dựng hành lang pháp lý và cơ sở hạ tầng cho tổ chức và hoạt động của TTCK phái sinh, vấn đề về thanh khoản cũng là một thách thức lớn khi thị trường chính thức được vận hành. Đối với một TTCK có quy mô còn nhỏ bé và mức độ tham gia của các nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài nước còn khá khiêm tốn, việc thu hút được các nhà đầu tư tham gia trong giai đoạn đầu sẽ là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của TTCK phái sinh.

Cover warrant: Làm gì để kiếm được tiền trong thị trường giá xuống? (Bài 4)


1. Giao dịch CW – Sân chơi mới cho nhà đầu tư thích rủi ro

Như đã đề cập, chứng quyền là sản phẩm có có tính đòn bẩy cùng khả năng sinh lời cao hơn so với cổ phiếu thông thường, hứa hẹn tạo ra thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro cao. Tuy nhiên, như một tính chất luôn song hành, sản phẩm có tính đòn bẩy cao đồng thời là sản phẩm ẩn chứa nhiều rủi ro. Vì vậy, chứng quyền không phải là sản phẩm phù hợp với tất cả các loại hình nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro thấp.

Các lợi điểm của đầu tư chứng quyền

Sự xuất hiện của chứng quyền giao dịch trên thị trường sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư thêm một lựa chọn đầu tư với chi phí thấp so với cổ phiếu trong khi vẫn có thể tối ưu hóa lợi nhuận thu được từ biến động giá của chứng khoán cơ sở. Hiệu ứng đòn bẩy có thể mang lại cho nhà đầu tư một tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) lớn hơn, trong khi mức phí tổn do lỗ vốn được khống chế tối đa bằng mức chi phí đầu tư ban đầu (phí mua chứng quyền).
Ví dụ: Cổ phiếu BBB đang được giao dịch trên HOSE với giá 120.000 VNĐ/cổ phiếu. Cùng lúc có chứng quyền mua BBBC0918 giao dịch trên thị trường với giá 11.000VNĐ/chứng quyền. Chứng quyền BBC0918 kiểu Châu Âu, cung cấp quyền mua cổ phiếu BBB tại mức giá 140.000VNĐ/cổ phiếu, ngày đáo hạn 30/09/2018.
Nhà đầu tư A đầu tư mua 1000 cổ phiếu BBB. Tổng giá trị đầu tư = 1000 x 120.000 = 120 triệu VNĐ.
Nhà đầu tư B đầu tư mua 1000 chứng quyền BBBC0918, tổng giá trị đầu tư = 1000 x 11.000 = 11 triệu VNĐ.
Giả sử tại ngày đáo hạn (30/9/2018) giá của cổ phiếu BBB là 160.000 VNĐ/cổ phiếu. Theo đó:
Nhà đầu A có mức sinh lời = 1000 x (160.000 – 120.000) = 40 triệu VNĐ. Tỉ suất sinh lời = 40 triệu/ 120triệu = 33,33%.
Nhà đầu tư B có mức sinh lời = 1000 x (160.000 – 140.000) – 11 triệu = 9 triệu VNĐ. Tỉ suất sinh lời = 9 triệu/ 11 triệu = 81,82%.
Bên cạnh lợi điểm từ bản chất của chứng quyền trong việc hạn chế mức lỗ tối đa, chi phí đầu tư thấp hơn so với đầu tư vào cổ phiếu, CW được ưa chuộng nhờ có đặc điểm lai giữa cổ phiếu và phái sinh, vừa được giao dịch như một loại cổ phiếu vừa là công cụ phòng vệ rủi ro cho nhà đầu tư trước những biến động của TTCK.
Ngoài ra chứng quyền còn có những lợi thế ưu đãi của sản phẩm mới trên thị trường. Theo Thông tư 107/2016/TT-BTC ngày 29/06/2016 Hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm, chứng quyền được cung cấp thanh khoản bởi tổ chức tạo lập thị trường. Theo đó, thanh khoản của chứng quyền được cải thiện đáng kể do sự chủ động của tổ chức tạo lập thị trường trong việc đặt lệnh và nghĩa vụ của tổ chức tạo lập thị trường trong điều kiện chỉ có lệnh một chiều, khoảng cách giữa lệnh mua và lệnh bán quá chênh lệch…
Đồng thời, nhà đầu tư còn có thể hưởng lợi thế của việc giảm phí giao dịch mà các công ty chứng khoán, chính sách pháp luật đối với sản phẩm mới trên thị trường.

Các rủi ro đi kèm

Bên cạnh sức hấp dẫn được tạo ra bởi yếu tố đòn bẩy, nhà đầu tư cần hiểu được các rủi ro đi kèm trong giao dịch chứng quyền đồng thời xác định được khẩu vị rủi ro của bản thân trước khi quyết định đầu tư.
Do tính chất đòn bẩy của chứng quyền, sự thay đổi của giá chứng khoán cơ sở tác động lên chứng quyền ở một tỉ lệ % lớn hơn. Nói cách khác, chứng quyền sẽ nhạy cảm hơn đối với các thông tin tốt, xấu của chứng khoán cơ sở và theo đó, mức sinh lời, rủi ro đối với chứng quyền cũng cao hơn.
Mặt khác, như đã đề cập ở bài trước, vì phương thức giao dịch CW hoàn toàn giống cổ phiếu nên nhà đầu tư nhiều lúc bỏ quên đặc tính sản phẩm là có vòng đời giới hạn. Thời gian tồn tại của CW do tổ chức phát hành quy định trước và công bố thông tin theo mỗi đợt phát hành. Thông thường thời gian tồn tại của CW là ngắn hạn từ 3 tháng đến 24 tháng (tối đa là 5 năm nhưng thời hạn này hiếm khi được phát hành). Sau thời hạn này, CW sẽ không được giao dịch hay thực hiện quyền nữa.
Với ví dụ trên, giả sử tại ngày đáo hạn (30/9/2018) giá của cổ phiếu BBB là 110.000 VNĐ/cổ phiếu. Theo đó, chứng quyền được xác định ở vị thế OTM, Nhà đầu tư B có mức lỗ chính bằng khoản đầu tư (11 triệu VNĐ).
Mặc dù khả năng thua lỗ xấu nhất đã được xác định tối đa bằng chi phí bỏ ra ban đầu để mua chứng quyền, việc mất toàn bộ số tiền đã đầu tư vẫn có thể là điều mới lạ đối với đa số các nhà đầu tư không chuyên tại Việt Nam vốn chỉ quen với việc đầu tư vào cổ phiếu, loại chứng khoán không có thời hạn và có quyền tự quyết đối với ngày chốt lời, cắt lỗ.
Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng cần lưu ý đến rủi ro phát sinh khi nhà phát hành bị phá sản hoặc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhà đầu tư khi CW đến hạn. Chính vì vậy, trước khi mua CW, nhà đầu tư phải tìm hiểu kỹ về tình trạng tài chính của nhà phát hành và không nên giao dịch CW khi còn nghi ngờ về năng lực tài chính của họ.

2. Những điều lưu ý khác khi đầu tư CW

Ba trạng thái đầu tư của CW

Tương tự như quyền chọn, có ba trạng thái quan trọng của CW mà nhà đầu tư cần chú ý. Bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của một CW. Ba trạng thái đó bao gồm: ITM (in-the-money), ATM (atthe-money), OTM (out-of the-money). Cách xác định ba trạng thái này là khác nhau đối với chứng quyền mua hoặc chứng quyền bán.
* Đối với chứng quyền mua: Vào thời điểm đáo hạn hay trong bất cứ thời điểm nào khi CW còn hiệu lực, nếu giá chứng khoán cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X), ta gọi CW mua đang ở trạng thái lời (ITM); nếu giá chứng khoán cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S
* Đối với chứng quyền bán: Vào thời điểm đáo hạn hay trong bất cứ thời điểm nào khi CW còn giá trị, nếu giá chứng khoán cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X), ta gọi CW bán đang ở trạng thái lỗ (OTM); nếu giá chứng khoán cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S

Giá trị của chứng quyền

Một trong những yếu tố quan trọng đối với nhà đầu tư khi tham gia đầu tư và giao dịch chứng quyền là phải hiểu được “giá CW” (premium) được xác định như thế nào.
Đầu tiên, cần xác định rằng:
Giá trị CW (premium) = Giá trị nội tại + Giá trị thời gian.
Chúng ta sẽ cùng nhau làm rõ hơn về hai thành tố này: giá trị nội tại và giá trị thời gian như sau.
Trước tiên, Giá trị nội tại: Tức là giá trị tự bản thân của CW có, không bị mất đi theo thời gian. Giá trị này chỉ bị ảnh hưởng khi giá chứng khoán cơ sở thay đổi, và với các CW nào ở trạng thái (ITM) thì mới có giá trị nội tại. Tại các trạng thái OTM và ATM, CW không có giá trị nội tại mà chỉ có giá trị về thời gian.
Giá trị thời gian: Tức là giá trị từ lúc CW được phát hành cho đến khi CW đáo hạn. Điều đó có nghĩa là tất cả CW đều có giá trị thời gian bất kể trạng thái ITM, ATM hay OTM. Càng gần thời điểm đáo hạn, giá trị thời gian của CW sẽ giảm đi và trở về 0 khi CW đáo hạn.

Định giá CW

Khi được giao dịch trên thị trườn thứ cấp, bên cạnh tác động của cung – cầu CW trên thị trường, giá của CW còn chịu tác động bởi các yếu tố đặc thù như:
- Giá của chứng khoán cơ sở: Đây là tham chiếu để xác định giá trị nội tại của CW.
- Thời gian đến khi đáo hạn, có nghĩa khoảng thời gian từ thời điểm xác định giá đến ngày đáo hạn của chứng quyền. Khoản thời gian càng dài thì CW càng có giá trị (thời gian) cao.
- Độ biến động của chứng khoán cơ sở: Độ biến động càng cao thì giá CW sẽ càng cao.
- Giá thực hiện (exercise price).
- Lãi suất phi rủi ro.
- Cổ tức.
Các yếu tố trên là các biến đầu vào của các mô hình định giá CW, được sử dụng tương tự như mô hình định giá quyền chọn: mô hình Black-Scholes hoặc mô hình nhị phân (binomial-model). Trong các nhân tố trên, độ biến động của chứng khoán cơ sở và lãi suất phi rủi ro là hai nhân tố quan trọng nhất và khó xác định nhất, phụ thuộc vào kinh nghiệm của nhà đầu tư và công ty chứng khoán trên thị trường.

3. Phân biệt CW với một số sản phẩm chứng khoán khác

Cùng với chứng quyền có bảo đảm, quyền chọn (option) và chứng quyền công ty (traditional/equity warrant) là những sản phẩm có một số đặc điểm tương đồng nhưng về bản chất đây là những sản phẩm khác nhau. Vậy, giữa các sản phẩm này có những điểm chung gì? Làm sao để phân biệt được các sản phẩm này trên thị trường chứng khoán?
Có thể nói điểm chung dễ thấy nhất đối với cả 03 sản phẩm trên là người sở hữu sẽ có quyền (mà không phải nghĩa vụ) được mua cổ phiếu cơ sở với mức giá được xác định trước tại một thời điểm đã được ấn định. Vậy, giữa chúng khác nhau như thế nào? Làm sao để phân biệt? Chúng ta sẽ xem xét những yếu tố chính dưới đây.
 Tổ chức phát hành: nếu như quyền chọn cổ phiếu là sản phẩm được Sở Giao dịch Chứng khoán thiết kế với các điều khoản được chuẩn hóa thì chứng quyền có bảo đảm chỉ được phát hành bởi các tổ chức tài chính (mà thường là các công ty chứng khoán), trong khi đó chứng quyền công ty là sản phẩm thường được các công ty niêm yết phát hành và thường được phát hành kèm theo việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi. Bên cạnh đó, khi phát hành các sản phẩm, Sở Giao dịch không thu bất cứ khoản phí nào cho việc thiết kế và niêm yết quyền chọn cổ phiếu, trong khi đó tổ chức phát hành chứng quyền được khoản tiền từ việc bán CW.
 Tài sản cơ sở: Tài sản dùng làm cơ sở cho cả quyền chọn và chứng quyền có bảo đảm bao gồm nhiều loại như: cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số chứng khoán, ETF, tiền tệ,... hay các loại hàng hóa khác. Trong khi đó, tài sản cơ sở cho chứng quyền công ty chỉ là cổ phiếu phổ thông của chính công ty đó.
 Giá thực hiện: Cả quyền chọn cổ phiếu và chứng quyền có bảo đảm đều có thể có nhiều mức giá thực hiện tùy thuộc vào từng điều kiện đã được xác lập trước đó cho mỗi đợt phát hành còn chứng quyền công ty chỉ có một mức giá thực hiện.
 Vị thế giao dịch: Khi niêm yết, đối với quyền chọn cổ phiếu nhà đầu tư có thể bán quyền chọn khi không sở hữu những quyền chọn này còn đối với chứng quyền có bảo đảm hay chứng quyền công ty, nhà đầu tư chỉ được bán chứng quyền có bảo đảm khi đã sở hữu nó.
 Điều khoản của sản phẩm: Điều khoản của quyền chọn cổ phiếu được các Sở Giao dịch Chứng khoán thiết kế dựa trên những điều khoản đã được chuẩn hóa về cấu trúc, quy mô, điều khoản về thực hiện quyền và chuyển giao tài sản cơ sở, trong khi đó đối với chứng quyền có bảo đảm và chứng quyền công ty, những điều khoản của sản phẩm sẽ do tổ chức phát hành (Công ty chứng khoán hay công ty) quy định, và những điều khoản này có thể sẽ khác nhau đối với từng sản phẩm mà họ phát hành.
 Chuyển giao tài sản khi thực hiện quyền: Quyền chọn cổ phiếu là hợp đồng giữa một bên là những cá nhân hay tổ chức tài chính sẵn sàng mua cổ phiếu với một bên là những cá nhân hay tổ chức tài chính cũng sẵn sàng bán cổ phiếu tại một mức giá cụ thể. Vì vậy, khi thực hiện quyền việc chuyển giao tài sản sẽ được thực hiện bởi các nhà đầu tư.
Đối với Chứng quyền có bảo đảm, do tổ chức phát hành là các tổ chức tài chính (công ty chứng khoán) nên việc chuyển giao tài sản khi thực hiện quyền được thực hiện bởi công ty chứng khoán với những người sở hữu chứng quyền có bảo đảm.
Đối với chứng quyền công ty, khi đến hạn, những người sở hữu chứng quyền muốn thực hiện quyền sẽ yêu cầu công ty phát hành thêm cổ phiếu mới và việc chuyển giao tài sản sẽ được thực hiện bởi công ty phát hành với nhà đầu tư. Một điểm khác biệt nữa giữa các sản phẩm này đó chính là khi thực hiện quyền bằng chuyển giao tài sản cơ sở, quyền chọn cổ phiếu và chứng quyền có bảo đảm không làm gia tăng vốn đối với tổ chức phát hành tài sản cơ sở, ngược lại vốn của tổ chức phát hành cổ phiếu cho nhà đầu tư sở hữu chứng quyền công ty sẽ gia tăng.
Sự phát triển của thị trường và sự ra đời của các sản phẩm mới cho phép nhà đầu tư có nhiều lựa chọn công cụ đầu tư mà chứng quyền có bảo đảm cũng không là ngoại lệ.
Nhà đầu tư cần trang bị cho mình kiến thức tốt về sản phẩm, nắm bắt xu hướng thị trường đồng thời xác định được khẩu vị rủi ro của bản thân, từ đó tìm ra được các chiến lược đầu tư phù hợp nhất đối sản phẩm đầy hấp dẫn này.

Thị trường chờ đợi gì khi cover warrants đi vào hoạt động? (Bài 3)

Bài 1: Chứng quyền có bảo đảm – Sản phẩm mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Bài 2: Thị trường chứng quyền trên thế giới - Ngược dòng lịch sử

Triển khai và phát triển đa dạng các loại chứng khoán là một hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK), nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhà đầu tư và phản ánh mức độ phát triển sâu rộng của thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế. Với hơn 16 năm phát triển cùng những mốc thời gian thăng trầm của thị trường, sản phẩm chứng quyền có bảo đảm (cover warrants - CW) đi vào hoạt động được kỳ vọng sẽ mang lại những tín hiệu đáng mừng cho TTCK Việt Nam.


Đối với nhà đầu tư, CW sẽ cung cấp thêm một công cụ phòng ngừa rủi ro cũng như là gia tăng lựa chọn về sản phẩm đầu tư với khoản chi phí thấp hơn so với cổ phiếu truyền thống hay chứng chỉ quỹ. Nhà đầu tư có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận từ loại hàng hóa có tính đòn bẩy cao này bằng việc áp dụng linh hoạt nhiều chiến lược đầu tư theo ý muốn như đầu tư, đầu cơ, phòng vệ vị thế và quản lý danh mục đầu tư. Với một TTCK Việt Nam non trẻ với sự tham gia của hơn 99% nhà đầu tư cá nhân, việc đưa những sản phẩm cấu trúc cao cấp đến với thị trường thực sự là một vấn đề còn nhiều trăn trở đối với cơ quan quản lý. Tuy nhiên, CW với lợi thế chi phí đầu tư thấp và được giao dịch đơn giản tương tự như cổ phiếu sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận và tham gia thị trường, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư không chuyên trên thị trường.

Đối với các công ty chứng khoán, việc tham gia phát hành CW sẽ tạo điều kiện để mở rộng hoạt động kinh doanh và gia tăng doanh thu cho chính mình như: nghiệp vụ phát hành sản phẩm đầu tư, môi giới với nhiều nguồn khách hàng tiềm năng trong và ngoài nước. Quy định về tổ chức phát hành phải thực hiện tạo lập thị trường cho CW của chính mình cũng là bước chuẩn bị hiệu quả để các CTCK có thể tích lũy kinh nghiệm để trở thành các tổ chức tạo lập thị trường cho phái sinh cũng như thị trường cổ phiếu tại Việt Nam trong tương lai.

CW ra đời tại Việt Nam hứa hẹn sẽ tạo một bước nhảy vọt trong quá trình tái cấu trúc và cải thiện chất lượng hoạt động của các CTCK nói chung. Để có thể phát hành sản phẩm thành công, tổ chức phát hành CW phải tăng cường củng cố và phát triển đội ngũ nhân sự có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm cũng như đẩy mạnh đầu tư cho hệ thống, cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại nhằm tạo lợi thế khi thực hiện được các nghiệp vụ đặc thù như phòng ngừa rủi ro (hedging) và tạo lập thị trường cho sản phẩm. Hơn nữa, khi CW đi vào hoạt động và đón nhận được những tín hiệu tốt và sự hưởng ứng của các nhà đầu tư, các CTCK chưa đủ điều kiện sẽ cố gắng để có thể đủ tiêu chuẩn phát hành.

Điều này góp phần cải thiện mặt bằng chung về năng lực và chất lượng cung cấp dịch vụ của các tổ chức trung gian trên TTCK. Bên cạnh đó, việc ra đời sản phẩm này cũng góp phần thu hút sự gia nhập và cạnh tranh của những CTCK có vốn nước ngoài có kinh nghiệm hơn về CW và chứng khoán phái sinh.

Thị trường CW được triển khai sẽ góp phần hoàn thiện cấu trúc TTCK nói chung vốn chỉ đang giao dịch với các sản phẩm cơ bản là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ.

Đặc biệt, sản phẩm chứng quyền bán (put warrant) được giao dịch trên thị trường sẽ xóa tan các định kiến về TTCK Việt Nam vốn được đánh giá là thị trường giao dịch một chiều. Khi giá cổ phiếu tăng nhà đầu tư ồ ạt mua vào, khi giá cổ phiếu giảm nhà đầu tư bán tháo như một cách nhấn chìm giá của thị trường. CW cũng được kỳ vọng mang lại một luồng gió mới cho khối nhà đầu tư ngoại, trong việc nâng cao khả năng tìm kiếm cơ hội đầu tư đối với các công ty niêm yết có kết quả kinh doanh tốt mà nếu chỉ bằng giao dịch bằng cổ phiếu vật chất, các cổ phiếu chưa nới room ngoại là những rào cản lớn.

Theo nghiên cứu và đánh giá tại thị trường Hồng Kong và Đài Loan, việc triển khai và giao dịch CW chưa ghi nhận tác động tiêu cực nào lên thị trường cổ phiếu mà ngược lại, nó có tác động thúc đẩy giao dịch trên thị trường cổ phiếu. Chính vì vậy, phát triển thị trường CW sẽ góp phần thúc đẩy thanh khoản đồng thời từng bước giúp thị trường cổ phiếu tăng trưởng ổn định và bền vững.

Mặc dù với rất nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển, CW vẫn luôn tiềm ẩn những rủi ro nhất định mà các nhà đầu tư hay chính những tổ chức phát hành luôn phải đối mặt. Việc CW được phát hành bởi các công ty chứng khoán cũng là một vấn đề đòi hỏi phải chấp nhận rủi ro từ phía nhà đầu tư, bởi khi các nhà phát hành gặp khó khăn về tài chính có thể ảnh hưởng đến việc thanh toán chi trả cho nhà đầu tư. Vì vậy, để hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư, Thông tư 107/2016/TT-BTC ngày 29/06/2016 đã có những quy định thiết thực nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của tổ chức phát hành.

Hơn nữa, thị trường CW chỉ hoạt động hiệu quả nhất khi trình độ hiểu biết của nhà đầu tư và tổ chức phát hành là ngang nhau. Vì vậy, vấn đề đào tạo nhà đầu tư là một công tác cần được chú trọng nhất và đòi hỏi rất nhiều nỗ lực trong quá trình phát triển thị trường CW trên thế giới mà Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Hoạt động này cần triển khai trên nhiều phương diện khác nhau từ các tài liệu, website, video phổ biến kiến thức đến chương trình đào tạo, tập huấn kiến thức cơ bản, tọa đàm, hội thảo để trao đổi cởi mở giữa cơ quan quản lý và các đối tượng nhà đầu tư khác nhau trên thị trường.

Thị trường chứng quyền trên thế giới – Ngược dòng lịch sử (Bài 2)

Bài 1: Chứng quyền có bảo đảm – Sản phẩm mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam


Trên thế giới, Chứng quyền có bảo đảm (Coverred Warrant - CW) được giao dịch trên nhiều Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) với các tên gọi khác nhau: tại Đức và Anh được gọi là Covered Warrant, tại Thái Lan và Hồng Kông là Derivatives Warrant, tại Singapore và Malaysia là Structured Warrant, tại Hàn Quốc là Equity-Linked Warrant. Dù tên gọi không giống nhau nhưng tựu trung lại trong hơn 25 năm qua, thị trường CW thế giới đã phát triển rất nhanh, được đánh giá là một trong những thị trường năng động nhất dành cho các nhà đầu tư cá nhân.

Các CW lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 tại Hồng Kông và Đức và sau đó từ năm 2000, CW được phát triển mạnh ở cả thị trường châu Á và châu Âu. Đặc biệt vào năm 2006, số lượng CW được phát hành và niêm yết trên SGDCK vượt ngưỡng 161 nghìn CW, tương đương 761,8 tỷ USD trên toàn thế giới. Tính đến năm 2015, theo số liệu thống kê của Liên đoàn các SGDCK Thế giới (WFE), GTGD các CW đạt 627 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2013. Trong đó, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chiếm tới 76% tổng doanh thu giao dịch CW toàn cầu, trong đó nổi bật nhất là thị trường Hồng Kông và Đài Loan. Ngoài ra, một số thị trường khác cũng tăng trưởng rất nhanh là Australia, Thái Lan, Singapore, Malaysia.

Tại thị trường Hồng Kông


Năm 1989, CW lần đầu tiên được giới thiệu tại Thị trường Chứng khoán (TTCK) Hồng Kông và được coi như một công cụ đầu tư hiệu quả trên SGDCK Hồng Kông (HKEx). Điều này thể hiện thông qua giá trị giao dịch (GTGD) cũng như số lượng các CW tăng nhanh chóng qua các năm. Tính đến thời điểm tháng 6/2015, số lượng CW đang giao dịch trên HKEx là 5.680 chứng quyền (trong khi cuối năm 2014 là 4.936 chứng quyền), với GTGD đạt 660.695,75 triệu đô la Hồng Kông (HKD), chiếm 21% GTGD toàn thị trường trong tháng 6/2015.

Tương tự như các sản phẩm khác của thị trường, CW được giao dịch trên hệ thống khớp lệnh tự động với chu kỳ thanh toán T+2. Phí giao dịch của CW bao gồm hoa hồng môi giới, thuế giao dịch và phí giao dịch.
Hiện nay, Hồng Kông có 17 tổ chức được phép phát hành chứng quyền, trong đó có cả các công ty chứng khoán, ngân hàng và các tổ chức tài chính khác đáp ứng đủ điều kiện của HKEx. Điều đáng chú ý là các tổ chức này đều được xếp hạng tín nhiệm ở mức cao (từ BBB+ trở lên). Ngoài các điều kiện chung về khả năng tham gia cung cấp sản phẩm như năng lực, kinh nghiệm, HKEx quy định các tổ chức tài chính trừ công ty tư nhân đều có thể tham gia phát hành chứng quyền.

Bên cạnh đó, HKEx đưa ra các quy định cụ thể đối với tổ chức phát hành không cần ký quỹ trong các trường hợp: (1) Giá trị tài sản ròng từ 2 tỷ HKD trở lên ở thời điểm công bố mới nhất và đã được kiểm toán, đồng thời phải duy trì giá trị tài sản ròng tối thiểu là 2 tỷ HKD và phải có thông báo ngay khi giá trị tài sản ròng giảm xuống dười mức quy đinh; (2) Có mức xếp hạng tín nhiệm nằm trong 3 mức cao nhất của cơ quan xếp hạng tín nhiệm được công nhận bởi SGDCK; (3) Chịu sự điều tiết của Cơ quan Tiền tệ Hồng Kông hoặc các quy định của nước ngoài được HKEx chấp thuận…. Các tổ chức phát hành phải là tổ chức niêm yết tại các SGDCK trước khi đưa CW lên niêm yết trên SGDCK.

Tại thị trường Đài Loan

Tháng 8/1997, Ủy ban Chứng khoán (UBCK) Đài Loan mở cửa thị trường giao dịch cho CW. Sau 10 tháng giao dịch, tính đến tháng 9/1998, mới chỉ có 11 tổ chức phát hành tham gia thị trường với 19 chứng quyền được chào bán và giao dịch, bao gồm 15 chứng quyền cổ phiếu đơn lẻ và 4 chứng quyền rổ chứng khoán. Con số này còn khá khiêm tốn so với TTCK Đài Loan lúc đó với 500 cổ phiếu đang niêm yết.
Trên thực tế, giao dịch chứng quyền ở Đài Loan bắt đầu từ năm 1994, chứng khoán cơ sở là chỉ số thị trường và rổ cổ phiếu của Đài Loan. Hầu hết các chứng quyền được đăng ký và niêm yết trên SGDCK Luxembourg, được phát hành bởi các tổ chức nước ngoài như Banker Trust, S.G.Warburg và Robert Flemming and Company… Chứng quyền lúc này chủ yếu hướng tới các nhà đầu tư nước ngoài. Một thời gian sau, nhu cầu đầu tư chứng quyền tăng cao đặt ra yêu cầu cần có thị trường giao dịch cũng như quy định pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, vì thế CW được ra đời ở Đài Loan để thay thế cho các chứng quyền nước ngoài. Cũng giống như các CW ở Hồng Kông, CW của Đài Loan cũng do bên thứ ba phát hành độc lập với tổ chức phát hành tài sản cơ sở. Sở dĩ Đài Loan lựa chọn CW thay vì chứng quyền vốn cổ phần bởi 3 lý do:
Thứ nhất, các công ty ở Đài Loan có nhiều cách thức tăng vốn như phát hành cổ phiếu, chia cổ tức bằng cổ phiếu thay vì phát hành chứng quyền dựa trên vốn cổ phần. Thứ hai, hầu hết các tổ chức tài chính không có nhiều kinh nghiệm đối với Chứng khoán phái sinh. Thứ ba, hạn chế trong các quy định giao dịch cũng như phát hành chứng quyền chưa đầy đủ.
Chứng khoán cơ sở của chứng quyền cũng được UBCK Đài Loan quy định chặt chẽ về giá trị thị trường, thanh khoản và tỷ lệ sở hữu của công chúng. Theo đó, đối với cổ phiếu: Giá trị thị trường của cổ phiếu phải vượt mức 25 tỷ đô la Đài Loan (TWD) (tương đương 735 triệu USD); Cổ phiếu cơ sở phải do ít nhất 15.000 cổ đông cá nhân sở hữu. Trong đó, ít nhất 7.000 cổ đông nắm giữ từ 1.000 đến 50.000 cổ phần phải trên 20% cổ phần đang lưu hành; Tổng GTGD trong ba tháng gần nhất tối thiểu phải bằng 20% số cổ phần đang lưu hành. Đối với rổ cổ phiếu: ngoài việc các cổ phiếu trong rổ cổ phiếu phải đáp ứng các quy định trên, giá trị thị trường của các cổ phiếu riêng lẻ không được vượt quá 45% giá trị của rổ cổ phiếu. Thêm vào đó, tổng giá trị thị trường của ba cổ phiếu lớn nhất trong rổ cổ phiếu phải thấp hơn 80% giá trị của rổ cổ phiếu.
Định kỳ ba tháng, SGDCK Đài Loan (TWSE) sẽ công bố danh sách cổ phiếu được điều chỉnh.
Do vậy, các tổ chức phát hành chỉ được chào bán chứng quyền dựa trên các cổ phiếu cơ sở nằm trong danh sách này.
Tổ chức phát hành chứng quyền tại Đài Loan phải đáp ứng các điều kiện khắt khe do vai trò quan trọng của mình. Trên thực tế, mỗi tổ chức phát hành đóng vai trò như một trung tâm giao dịch chứng quyền của chính họ. Theo quy định của UBCK Đài Loan, công ty chứng khoán được phép phát hành chứng quyền với điều kiện đã được cấp phép hoạt động các nghiệp vụ môi giới, bảo lãnh phát hành và tự doanh. Bên cạnh đó, UBCK Đài Loan còn quy định mức xếp hạng tín dụng của tổ chức phát hành không được thấp hơn BBB-. Giá trị vốn hóa của tổ chức phát hành đạt tối thiểu 3 tỷ TWD (tương đương 100 triệu USD), không có lỗ lũy kế trong năm tài chính gần nhất và tổ chức phát hành phải có đề xuất về chiến lược kinh doanh.
Với những quy định khắt khe nêu trên, ở vào thời điểm năm 1997, chỉ có 16/280 Công ty chứng khoán Đài Loan đáp ứng được các quy định. Mặc dù không giới hạn việc phát hành chứng quyền bán, song Đài Loan cấm bán khống cổ phiếu, bởi vậy không thể thiết lập những chiến lược giao dịch cho chứng quyền bán.
Ngoài ra, các quy định về phát hành chứng quyền, lựa chọn tài sản cơ sở, hay giao dịch chứng quyền…. cũng được UBCK Đài Loan cũng như TWSE đưa ra cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường giao dịch chứng quyền được vận hành suôn sẻ. Theo kết quả của WFE, thị trường CW Đài Loan tính đến cuối năm 2015 vẫn giữ vững trí thứ 2 và thứ 6 Châu Á và thế giới về giá trị giao dịch (20376 triệu USD) với vòng quay thanh khoản duy trì ổn định ở mức 15%. Thị trường CW đã có những bước phát triển dài và vững chắc sau 15 năm với với 20030 CW đã phát hành trong năm 2015 (tăng 6% so với cùng kỳ 2014), đóng góp vào gần 3% giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán Đài Loan nói chung. Tính đến 5/2016, có 6958 chứng quyền mua và 2286 chứng quyền bán được niêm yết trên TWSE.
Bài 3: Thị trường chờ đợi gì khi cover warrant đi vào hoạt động
Bài 4: Cover warrant làm gì để NĐT vẫn kiếm được tiền trong thị trường giá xuống

Chứng quyền có bảo đảm – Sản phẩm mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam (Bài 1)

Thông tư số 107/2016/TT-BTC Hướng dẫn chào bán và giao dịch Chứng quyền có bảo đảm chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Để nhà đầu tư có một cái nhìn đầy đủ về sản phẩm này, tôi xin trích đăng các bài viết do Sở GDCK Tp.HCM biên soạn sau đây:


Chứng quyền có bảo đảm là gì?

Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm phổ biến tại nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới với các tên gọi khác nhau như Covered Warrant (Anh, Đức, Úc, Canada), Derivative warrant (Hong Kong, Thái Lan), Structured warrant (Malaysia), Call/put Warrant (Đài Loan), Equity-linked warrant (Hàn Quốc).
Tại Việt Nam, Chứng quyền có bảo đảm được định nghĩa tại Nghị định 60/2015/CP-NĐ là chứng khoán có tài sản đảm bảo do công ty chứng khoán phát hành. Nhà đầu tư sẽ trả một khoản phí (premium) để sở hữu chứng quyền và được quyền mua hoặc bán chứng khoán cơ sở cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước thời điểm đã được ấn định, hoặc được nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện.
Để hiểu rõ được chứng quyền có bảo đảm, nhà đầu tư cần nắm bắt những thuật ngữ cơ bản liên quan đến sản phẩm.
1. Loại chứng quyền: có hai loại chứng quyền cơ bản:
  • Chứng quyền mua (call warrant): cho phép người sở hữu có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được mua một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào hoặc trước ngày đáo hạn.
  • Chứng quyền bán (put warrant): cho phép người sở hữu có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được bán một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào hoặc trước ngày đáo hạn.

2. Chứng khoán cơ sở: chứng quyền có bảo đảm có thể được phát hành trên nhiều chứng khoán cơ sở khác nhau như: cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số chứng khoán, ETF.
3. Giá chứng quyền (phí chứng quyền): là số tiền mà nhà đầu tư phải trả cho tổ chức phát hành chứng quyền (người bán chứng quyền) để sở hữu chứng quyền. Khi niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán, giá chứng quyền chính là giá giao dịch trên thị trường và thông thường giá chứng quyền khá nhỏ so với giá trị thực của chứng khoán cơ sở.
4. Ngày đáo hạn: mỗi chứng quyền có bảo đảm đều có tuổi thọ và kết thúc vào ngày được xác định trước trong tương lai. Đây chính là ngày cuối cùng để nhà đầu tư sở hữu chứng quyền thực hiện quyền.
5. Giá thực hiện: là giá của chứng khoán cơ sở được xác định trước dùng để tính toán khi nhà đầu tư thực hiện quyền.
6. Tỷ lệ chuyển đổi: khi chứng quyền có bảo đảm được phát hành, thông thường sẽ có thông tin về tỷ lệ chuyển đổi. Tỷ lệ chuyển đổi cho biết bao nhiêu chứng quyền cần có để được một chứng khoán cơ sở, tỷ lệ chuyển đổi có thể là 1:1 hoặc 3:1 hoặc tỷ lệ nào đó tùy thuộc vào tổ chức phát hành.
7. Kiểu thực hiện quyền: giống như quyền chọn của chứng khoán phái sinh, chứng quyền có bảo đảm có thể được phát hành theo kiểu Châu Âu hay kiểu Mỹ.
  • Chứng quyền kiểu Mỹ cho phép người sở hữu thực hiện quyền vào bất kỳ thời điểm nào, trước hoặc đến khi chứng quyền đáo hạn.
  • Chứng quyền kiểu Châu Âu chỉ cho phép người sở hữu thực hiện quyền khi chứng quyền đáo hạn.

8. Quyền của người sở hữu chứng quyền: nhà đầu tư nắm giữ chứng quyền có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền khi chứng quyền đáo hạn. Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện, khoản lỗ tối đa đối với nhà đầu tư chính là khoản phí để sở hữu chứng quyền đó.
9. Nghĩa vụ của tổ chức phát hành: tổ chức phát hành có nghĩa vụ chuyển giao hoặc mua chứng khoán cơ sở hoặc thanh toán tiền mặt khi nhà đầu tư sở hữu chứng quyền có yêu cầu.

Tại sao lại gọi là Chứng quyền có bảo đảm - “Covered Warrant”?

Có khá nhiều nhà đầu tư đặt câu hỏi về tên gọi “Covered Warrant” mang ý nghĩa như thế nào? Thuật ngữ “Covered” phản ánh một thực tế là khi công ty chứng khoán phát hành chứng quyền có bảo đảm, họ phải thực hiện một số biện pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu chứng quyền. Theo đó, họ sẽ phải thực hiện phòng hộ rủi ro (Cover hoặc Hedge) bằng cách mua/bán chứng khoán cơ sở hoặc giao dịch các chứng khoán tương đương khác (hợp đồng tương lai, quyền chọn…) và đây cũng là nghiệp vụ bắt buộc đối với tổ chức phát hành Chứng quyền có bảo đảm tại bất cứ thị trường nào trên thế giới.
Tính chất “có bảo đảm – Covered” còn được thể hiện ở nhiều mức độ mang tính chắc chắn cao hơn, đặc biệt đối với các thị trường đang phát triển, có điểm xếp hạng tín nhiệm thấp và các thành viên thị trường còn thiếu kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro. Ngoài yêu cầu phòng hộ rủi ro, tổ chức phát hành tại các thị trường này còn phải nộp thêm một khoản ký quỹ (bằng tiền hoặc chứng khoán cơ sở) tại ngân hàng lưu ký khi phát hành chứng quyền có bảo đảm. Tùy theo thị trường, giá trị khoản ký quỹ cũng biến thiên từ mức ký quỹ một phần (partial collateralised) đến mức độ đảm bảo cao nhất, ký quỹ toàn phần (fully collateralised). Theo Thông tư 107/2016, tổ chức phát hành chứng quyền tại Việt Nam phải ký quỹ bảo đảm thanh toán với giá trị tài sản bảo đảm ban đầu tối thiểu là 50% giá trị chứng quyền dự kiến chào bán.
Bên cạnh đó, khi phát hành chứng quyền có bảo đảm, tổ chức phát hành phải có Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án bảo đảm thanh toán và thực hiện các nghĩa vụ của tổ chức phát hành cũng như Điều lệ phải có điều khoản về quyền của người sở hữu chứng quyền. Vì vậy, Chứng quyền có đảm bảo còn được xem là hợp đồng giao kết giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành, theo đó người sở hữu chứng quyền là chủ nợ có đảm bảo một phần của tổ chức phát hanh và tổ chức phát hành có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu.

Chứng quyền có bảo đảm được niêm yết và giao dịch ở đâu?

Mặc dù được phát hành dựa trên một chứng khoán cơ sở khác nhưng theo thông lệ quốc tế, chứng quyền có bảo đảm được tổ chức giao dịch trên thị trường giao ngay (cash market) cùng với cổ phiếu, ETF, quyền mua, chứng quyền công ty với phương thức giao dịch hoàn toàn tương tự như cổ phiếu.
Chính vì phương thức giao dịch tương tự như cổ phiếu nên nhiều nhà đầu tư khi giao dịch chứng quyền có bảo đảm có thể bỏ qua hoặc quên bản chất của sản phẩm là sản phẩm phái sinh có ngày đáo hạn, có giá được xác định dựa trên giá của tài sản cơ sở... Do đó, khi tham gia giao dịch chứng quyền có bảo đảm nhà đầu tư cần phải trang bị kiến thức và hiểu biết về những lợi ích và rủi ro của sản phẩm này.

Là sản phẩm tài chính mang lợi ích đa chiều

Tương tự như quyền chọn, nhà đầu tư có thể sử dụng chứng quyền có bảo đảm để đưa ra nhiều chiến lược đầu tư cho mình, cũng như tiến hành các phương án phòng hộ rủi ro mà thông thường sẽ không thực hiện được nếu chỉ bằng chứng khoán cơ sở. Ví dụ như trong bối cảnh thị trường Việt Nam có xu hướng chuyển động một chiều (khi thị trường tăng giá, nhà đầu tư ào ào mua cổ phiếu; còn khi thị trường giảm giá, xu hướng bán cổ phiếu luôn lấn át), chứng quyền bán sẽ giúp bù đắp hạn chế đó, tạo điều kiện nhà đầu tư tự cân bằng và kiếm lời khi giá xuống.
Chứng quyền có bảo đảm còn là sản phẩm mang đặc tính “đòn bẩy” khá lớn; đây cũng là đặc điểm thu hút nhiều nhà đầu tư của sản phẩm. Chi phí để sở hữu chứng quyền có bảo đảm là khá thấp so với giá trị của chứng khoán cơ sở nhưng nhà đầu tư có thể nhận được khoản lợi nhuận tương đương như nắm giữ chứng khoán cơ sở đó. Đây là cơ hội mới đối với những nhà đầu tư mạo hiểm, ưa thích sử dụng đòn bẩy ngắn hạn để kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, đặc tính đòn bẩy cũng mang lại rủi ro khá lớn cho nhà đầu tư vì thông thường giá trị của chứng quyền có bảo đảm tăng hoặc giảm nhanh hơn nhiều lần so với mức tăng hoặc giảm giá trị của chứng khoán cơ sở./.
Bài 2: Thị trường chứng quyền thế giới - Ngược dòng lịch sử

Bài 3: Thị trường chờ đợi gì khi cover warrant hoạt động?
Bài 4: Làm gì để NĐT vẫn kiếm được tiền trong thị trường giá xuống?

NĐTNN không bị giới hạn sở hữu Chứng Quyền Có Đảm Bảo (Covered Warrant-CW)- Dự thảo về Covered Warrant của UBCKNN.

Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước (UBCKNN) đã công bố Dự thảo Thông tư hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant).


covered warrant
Ảnh minh họa
Theo dự thảo, Covered Warrant được định nghĩa là giao kết dân sự giữa nhà đầu tư và công ty chứng khoán (CTCK), theo đó CTCK có trách nhiệm ký quỹ tài sản đảm bảo tại ngân hàng lưu ký và thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu chứng quyền theo các điều khoản trên Bản cáo bạch. Người sở hữu chứng quyền là chủ nợ có bảo đảm của công ty chứng khoán; được ưu tiên thanh toán tài sản của CTCK trước chủ nợ không bảo đảm, cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi trong trường hợp CTCK giải thể, bị phá sản theo quy định pháp luật liên quan.
Các chứng khoán cơ sở là chứng khoán được sử dụng làm tài sản cơ sở của chứng quyền bao gồm cổ phiếu, chỉ số thị trường, chứng chỉ quỹ ETF.
Để đảm bảo an toàn, công ty chứng khoán khi phát hành Covered Warrrant phải ký quỹ tài sản đảm bảo thanh toán tại ngân hàng lưu ký, giá trị tài sản đảm bảo tối thiểu là 30% giá trị loại chứng quyền dự kiến chào bán. Số lượng chứng quyền này cũng không được vượt quá một tỷ lệ % của tổng số chứng khoán cơ sở tự do chuyển nhượng theo quy chế của UBCK.
Tài sản đảm bảo thanh toán nêu trên bao gồm tiền hoặc chứng chỉ tiền gửi của CTCK. Tài sản bảo đảm kể cả khoản tiền lãi phát sinh từ tài sản đảm bảo phải được lưu ký tại ngân hàng lưu ký trong trong suốt thời gian có hiệu lực của chứng quyền.
Đối với thời gian của Chứng quyền, dự thảo quy định thời hạn tối thiểu là ba (03) tháng, tối đa là hai (02) năm tính từ ngày phát hành đến ngày đáo hạn.
Mức giá thực hiện với chứng quyền mua, hoặc chứng quyền bán được xác định tại thời điểm trước hoặc vào ngày đáo hạn. Theo đó, CTCK có nghĩa vụ mua/bán chứng khoán cơ sở từ người sở hữu; hoặc có nghĩa vụ thanh toán khoản chênh lệch giá trị chứng khoán cơ sở dựa trên chênh lệch giá thực hiện và giá thị trường của chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện.
Khi giao dịch, nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch trên tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường. Công ty chứng khoán chỉ được thực hiện lệnh khi đã bảo đảm nhà đầu tư ký quỹ đủ tiền, chứng khoán theo quy định pháp luật liên quan.
Tổ chức hành chứng khoán cơ sở sẽ không được đầu tư, giao dịch Covered Warrant. Và điểm quan trọng nhất của Dự thảo là nhà đầu tư nước ngoài không bị hạn chế tỷ lệ sở hữu chứng quyền.
Trong khi đó, quỹ đại chúng chỉ được đầu tư vào chứng quyền nhằm mục tiêu phòng ngừa rủi ro. Ngoài ra, CTCK không được cho nhà đầu tư thực hiện giao dịch ký quỹ đối với chứng quyền.
Hiện tại, dự thảo vẫn đang trong quá trình lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân và các thành viên thị trường.

Một sản phẩm mới của chứng khoán phái sinh sắp có mặt trên TTCK Việt Nam

Sắp tới đây, một sản phẩm mới mang "hơi hướng" của sản phẩm phái sinh - Chứng quyền có bảo đảm (CW- Covered Warrant) - đã có đủ cơ chế cho phép chào bán, niêm yết, tổ chức giao dịch và thanh toán trên TTCK, mở ra cho thị trường và công chúng đầu tư một cơ hội mới.


khung canh hoi thao ve ckps
ảnh minh họa
Sau một thời gian dài được thị trường trông đợi, Thông tư hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm (CW) đã chính thức được Bộ Tài chính ký ban hành (Thông tư số 107/2016/TT-BTC) ngày 29/6/2016 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2017.
Theo đó, chứng quyền có bảo đảm (CW) đã có đủ cơ chế cho phép chào bán, niêm yết, tổ chức giao dịch và thanh toán trên TTCK, đem đến cho thị trường và công chúng đầu tư một sản phẩm mới mang hơi hướng của sản phẩm phái sinh gần giống hợp đồng quyền chọn cổ phiếu, được coi là sản phẩm “bước đệm” cho triển khai thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam.
Bài viết này xin tóm lược một số điểm chính của Thông tư.

Các sản phẩm chứng quyền

Chứng quyền có bảo đảm được chào bán và giao dịch gồm 2 loại:
- Chứng quyền mua là loại chứng quyền mà người sở hữu chứng quyền được quyền mua;
- Chứng quyền bán là loại chứng quyền mà người sở hữu chứng quyền được quyền bán một số lượng chứng khoán cơ sở theo mức giá thực hiện hoặc nhận khoản tiền chênh lệch khi giá (chỉ số) của chứng khoán cơ sở thấp hơn giá thực hiện (chỉ số thực hiện) tại thời điểm thực hiện.
Quy định tại Thông tư cũng cho phép CTCK được lựa chọn kiểu CW: (i) Kiểu Mỹ, người sở hữu chứng quyền được thực hiện quyền trước hoặc tại ngày đáo hạn; (ii) Kiểu châu Âu, người sở hữu chứng quyền chỉ được thực hiện quyền tại ngày đáo hạn.

Tài sản cơ sở của chứng quyền

Tài sản cơ sở của chứng quyền phải là chứng khoán trong danh sách chứng khoán đáp ứng điều kiện chào bán chứng quyền:
- Là cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán tại Việt Nam đáp ứng tiêu chí về mức vốn hóa thị trường, mức độ thanh khoản, tỷ lệ tự do chuyển nhượng, kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở và các tiêu chí khác theo quy chế của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
- Chứng chỉ quỹ ETF niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán tại Việt Nam.
- Chỉ số chứng khoán do SGDCK tại Việt Nam xây dựng hoặc phối hợp xây dựng và quản lý cùng tổ chức quốc tế sau khi đã được UBCKNN chấp thuận;
Các chứng khoán cơ sở này không đang trong tình trạng bị cảnh báo, kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng giao dịch, không trong diện hủy niêm yết theo quy chế của SGDCK. Tổ chức phát hành không được chào bán chứng quyền dựa trên cổ phiếu của chính tổ chức phát hành và chứng khoán của tổ chức là người có liên quan của tổ chức phát hành theo quy định tại Luật Chứng khoán.

Chào bán, niêm yết, giao dịch và thanh toán chứng quyền

Tổ chức chào bán chứng quyền là các công ty chứng khoán đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 21 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP. Để được chào bán chứng quyền, các CTCK này phải gửi hồ sơ đăng ký chào bán chứng quyền lên UBCK để xin phép chấp thuận, trong hồ sơ chào bán, CTCK phải chuẩn bị Bản cáo bạch chào bán CW giống hồ sơ chào bán cổ phiếu.
CTCK phải đáp ứng các quy định về hạn mức chào bán như:
- Hạn mức về số lượng cổ phiếu quy đổi từ các chứng quyền đã phát hành của tất cả tổ chức phát hành (kể cả chứng quyền dựa trên chứng chỉ quỹ ETF mà cổ phiếu đó là thành phần của chỉ số tham chiếu);
-Hạn mức về số lượng cổ phiếu quy đổi từ chứng quyền trong một đợt chào bán của một tổ chức phát hành so với tổng số cổ phiếu tự do chuyển nhượng;
- Hạn mức tổng giá trị chứng quyền đã phát hành và đăng ký phát hành của một tổ chức phát hành.
CTCK chỉ được chào bán bổ sung khi số lượng chứng quyền đang lưu hành vượt quá 80% số lượng chứng quyền đã phát hành và thời gian đến ngày đáo hạn lớn hơn 30 ngày. Sau khi hoàn tất chào bán, CTCK gửi hồ sơ đăng ký niêm yết tới SGDCK để xin niêm yết và chính thức giao dịch trên SGDCK.
Giao dịch chứng quyền trên SGDCK được thanh toán tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK) theo quy chế của TTLKCK.
Tổ chức phát hành có nghĩa vụ thực hiện chứng quyền theo một trong các phương thức:
- Chuyển giao chứng khoán cơ sở.
- Hoặc thanh toán tiền. Trong đó, trường hợp chứng quyền phát hành dựa trên chứng khoán cơ sở là chỉ số chứng khoán; hoặc khi việc thực hiện chứng quyền theo hình thức chuyển giao chứng khoán cơ sở cho nhà đầu tư nước ngoài dẫn tới vượt tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa đối với chứng khoán cơ sở thì phương thức thanh toán bằng tiền phải được thực hiện.
Nhà đầu tư nước ngoài được mua bán chứng quyền không bị hạn chế tỷ lệ sở hữu.

Hoạt động tạo lập thị trường của tổ chức phát hành chứng quyền

Theo quy định tại Thông tư, tổ chức phát hành chứng quyền (CTCK) có trách nhiệm thực hiện hoạt động tạo lập thị trường để tạo thanh khoản cho chứng quyền mà tổ chức đó phát hành. Giao dịch tạo lập thị trường thực hiện trên tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành theo quy chế của Sở Giao dịch chứng khoán. Chứng quyền trong tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành dùng cho hoạt động tạo lập thị trường không được sử dụng để cầm cố, thế chấp, ký quỹ, cho vay hoặc làm tài sản đảm bảo.

Quy định về quản trị rủi ro

Nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, Thông tư quy định, tổ chức phát hành chứng quyền sau khi được cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng quyền phải ký quỹ bảo đảm thanh toán tại ngân hàng lưu ký hoặc có văn bản xác nhận bảo lãnh thanh toán của ngân hàng lưu ký.
Giá trị tài sản bảo đảm ban đầu tối thiểu là 50% giá trị loại chứng quyền dự kiến chào bán. Đối với chứng quyền đang lưu hành, tổ chức phát hành phải đảm bảo có đủ số lượng chứng khoán cơ sở theo các phương án phòng ngừa rủi ro quy định tại Thông tư.
Giao dịch phòng ngừa rủi ro thực hiện trên một tài khoản giao dịch độc lập chỉ dành riêng cho hoạt động phòng ngừa rủi ro hoặc trên tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành. Hoạt động phòng ngừa rủi ro của tổ chức phát hành bao gồm các giao dịch mua, bán, vay và các giao dịch khác phù hợp với quy định pháp luật.

Theo Trí Thức Trẻ

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

Khái Niệm Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh

Nhằm nâng cao vai trò, vị thế của thị trường chứng khoán và có thêm công cụ phòng ngừa rủi ro, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam và chính thức đưa vào vận hành từ năm 2016.

tai lieu ckps
Ảnh minh họa
Tuy nhiên thị trường chứng khoán phái sinh là gì? khái niệm này còn khá mới mẻ đối với các nhà đầu tư cá nhân tại Việt Nam. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quan về thị trường chứng khoán phái sinh, qua đó có thêm thông tin hữu ích giúp có những quyết định đầu tư chính xác trong tương lai.

1. Thị trường chứng khoán phái sinh

Trong các thị trường tài sản, việc mua bán đòi hỏi hàng hoá hoặc chứng khoán phải được giao nhận hoặc là ngay lập tức hoặc là chỉ ít lâu sau đó. Việc thanh toán cũng thường được thực hiện tức thời mặc dù thỉnh thoảng cũng có trường hợp sử dụng một số thoả thuận tín dụng. Do đặc điểm như vậy nên chúng ta thường gọi là thị trường tiền mặt hoặc là thị trường giao ngay. Doanh số được thực hiện, khoản thanh toán được hoàn trả và hàng hoá, chứng khoán được giao nhận. Trong tình huống khác, hàng hoá hay chứng khoán vẫn được giao nhận vào một ngày sau đó, nhưng có các thoả thuận giúp cho người bán hoặc người mua được chọn là có thực hiện bán hay không các loại thoả thuận này, và nghiệp vụ này được thực hiện trong thị trường phái sinh.
Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng được xác định trên một hoặc một số công cụ tài sản khác. Chúng ta xem các công cụ phái sinh như là các hợp đồng, và giống như tất cả hợp đồng, chúng được thoả thuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó mỗi bên sẽ thực hiện nghĩa vụ gì đó cho bên kia. Các hợp đồng này có giá cả và người mua sẽ cố gắng mua với giá rẻ và người bán cố gắng bán với giá cao nhất. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn.

2. Thành viên của thị trường tài chính phái sinh 

– Người đầu tư: Họ sử dụng nghiệp vụ phái sinh để giảm thiểu hoặc loại bỏrủi ro do họ luôn phải đối mặt với những rủi ro do biến động giá cả của các sảnphẩm chính.
– Người đầu cơ: Với tâm lí muốn đánh cuộc trên những biến động giá cảcủa sản phẩm chỉnh nên họ sử dụng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt.
– Người cơ lợi (thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro): Bằng cách sửdụng chênh lệch giá giữa các thị trường tài chính khác nhau, họ đã sử dụng rấthiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá.
Các nghiệp vụ tài chính phái sinh đều mang lại lợi ích cho các thành viên, chính vì vậy trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ này đã phát triển rất mạnh với các nghiệp vụ phái sinh đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu.

3. Công cụ tài chính phái sinh

Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử dụng nhiều nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hợp đồng hoán đổi. Những công cụ trên sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu.

4. Đặc điểm của công cụ tài chính phái sinh

– Chứng khoán phái sinh được tạo lập dựa trên một chứng khoán gốc. Giátrị của phái sinh được xác định dựa trên những sự kiện biến động về giá trong tương lai của chứng khoán cơ sở. Hoạt động của thị trường tài chính tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển các chứng khoán phái sinh. Các chủ thể tham gia thị trường tài chính tạo ra các công cụ phái sinh và sử dụng chúng để thực hiện mục đích kinh doanh hoặc hạn chế rủi ro trong đầu tư.
– Hoạt động của thị trường phái sinh góp phần làm tăng tính thanh khoảncủa các loại chứng khoán trên thị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìmkiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua bán chứng khoán thực tế.
Với sự xuất hiện chứng khoán phái sinh làm tăng số lượng hàng hoá trênthị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua bán chứng khoán thực tế.
Giao dịch chứng khoán phái sinh góp phần giảm chi phí giao dịch, hạnchế rủi ro… Từ đó, tạo nên những lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia, góp phần ổn định và phát triển thị trường tài chính.
– Được thực hiện vào một ngày trong tương lai.

5. Các loại chứng khoán phái sinh cơ bản

a. Hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng kỳ hạn là công cụ lâu đời nhất, và có lẽ vì lí do đó mà nó ít phức tạp nhất. Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay. Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá hợp đồng thì người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu ngược lại thì người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ.
– Là thỏa thuận song phương giữa các bên.
– Giá được ấn định theo thỏa thuận của các bên tham gia.
– Là hợp đồng tùy ý, phụ thuộc vào người mua, người bán.
Ví dụ: Vào ngày 01/04 , A ký hợp đồng kỳ hạn mua của B 10 tấn cà phê kỳ hạn 3 tháng với giá 926USD/tấn. Sau 3 tháng, tức vào ngày 01/07, B phải bán cho A 10 tấn cà phê với giá 926USD/tấn và A phải mua 10 tấn cà phê của B với giá đó, cho dù giá cà phê trên thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa.

b. Hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai (hay còn gọi là hợp đồng giao sau) là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để mua bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay mà không phụ thuộc vào giá ở thời điểm thực hiện hợp đồng. Như vậy, hợp đồng tương lai khá giống với hợp đồng kỳ hạn. Sự khác biệt của chúng:
– Được giao dịch có tổ chức trên sàn giao dịch.
– Giá được điều chỉnh hàng ngày theo điều kiện thị trường.
– Là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa.
– Độ rủi ro giảm đáng kể bởi sự đảm bảo của sàn giao dịch.
Ví dụ: vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng tương lai với công ty B mua 90 tấn gạo với giá 2USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như vậy vào thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2USD/kg và công ty A phải mua 90 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2003 là bao nhiêu chăng nữa.

c. Quyền chọn: Mua và Bán

Quyền chọn: là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Mặc dù các quyền chọn được giao dịch trong một thị trường có tổ chức nhưng phần lớn các giao dịch quyền chọn được quản lý riêng rẽ giữa hai bên. Những người này tự tìm đến với nhau, loại thị trường này gọi là thị trường OTC – loại thị trường quyền chọn xuất hiện đầu tiên.
Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp đồng kỳ hạn nhưng quyền chọn không bắt buộc phải thực hiện giao dịch còn người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc bắt buộc phải thực hiện giao dịch. Hai bên trong hợp đồng kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có thể quyết định mua hoặc bán tài sản với giá cố định nếu giá trị của nó thay đổi. Có hai loại quyền chọn:

Quyền chọn mua:

Người mua quyền chọn trả một khoản tiền (gọi là phí quyền chọn) cho người bán. Người mua sẽ có quyền được mua một lượng tài sản nhất định theo một mức giá thoả thuận trước, tại một thời điểm xác định trong tương lai. Người bán nhận phí quyền chọn có trách nhiệm phải bán một lượng tài sản như đã thoả thuận cho người mua, theo mức giá đã thoả thuận, vào thời điểm xác định trong tương lai ( hoặc trước thời điểm đó) khi người mua muốn thực hiện quyền chọn mua.

Quyền chọn bán:

Người nắm giữ một lượng tài sản mua phí quyền chọn bán của nhà cung cấp quyền chọn bán để đảm bảo rằng tài sản của mình sẽ chắc chắn được bán ở một mức giá nhất định trong tương lai.

d. Hợp đồng hoán đổi

Hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền, một giao dịch mà cả hai bên đồng ý thanh toán cho bên còn lại một chuỗi các dòng tiền trong một khoảng thời gian xác định.
Ví dụ: Một bên đối tác đang nhận được một dòng tiền từ một khoản đầu tư , nhưng lại thích một loại đầu tư khác với dòng tiền mà mình đang thị hưởng. Bên đối tác này sẽ liên lạc với một môi giới hoán đổi, thường là một công ty hoạt động trên OTC, và họ sẽ thực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch. Tuỳ thuộc vào lãi suất hay giá sau đó như thế nào mà 1 bên sẽ thu được lợi nhuận hay là bị lỗ. Lãi của bên này chính là lỗ của bên kia. Thông thường giao dịch hoán đổi bao gồm các thanh toán lãi, trong một số trường hợp là thanh toán nợ gốc. Có 4 loại hoán đổi là hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất , hoán đổi chứng khoán và hoán đổi hàng hoá. Hoán đổi được xem như là sự kết hợp giữa các hợp đồng kỳ hạn.

6. Vai trò của chứng khoán phái sinh đối với thị trường chứng khoán (TTCK)

Sự ra đời của thị trường chứng khoán phái sinh mang lại khá nhiều lợi ích cho nhà đầu tư. Không chỉ đưa ra những dấu hiệu chỉ báo giá trong tương lai của tài sản gốc, chứng khoán phái sinh còn là công cụ phòng vệ rủi ro cũng như đầu tư, đầu cơ hiệu quả. Những nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, các quỹ đầu tư am hiểu về thị trường và sử dụng thành thạo các công cụ chứng khoán phái sinh sẽ là những đối tượng đầu tiên quan tâm đến những sản phẩm mới này. Do đó, sự ra đời của TTCK phái sinh được kỳ vọng là sẽ làm tăng tính hiệu quả của TTCK, thu hút thêm vốn, tăng giá trị giao dịch và thanh khoản thị trường.
Là công cụ phòng vệ rủi ro hiệu quả, chứng khoán phái sinh đồng thời cũng có thể làm tăng rủi ro cho nhà đầu tư. Với các công cụ chứng khoán phái sinh, nhà đầu tư có thể tạo ra các vị trí tương tự như bán khống chứng khoán không căn cứ. Chẳng hạn, khi nhà đầu tư dự đoán chỉ số VN-Index đi xuống và bán một hợp đồng quyền mua, nếu dự đoán sai, VN-Index tăng điểm, khi đó nhà đầu tư đối mặt với nguy cơ thua lỗ không giới hạn. Hơn nữa, khi tham gia TTCK phái sinh, do chỉ cần bỏ ra số vốn ban đầu nhỏ, những nhà đầu cơ thường sẽ sử dụng đòn bẩy tài chính cao, sẽ làm tăng mức độ rủi ro và có thể tác động làm tăng biến động giá trên thị trường cơ sở.

Theo CFE

Recent Post